Việt Nam: Hà Nội gian dối về hồ sơ nhân quyền với Liên hiệp Quốc

Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print
Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print

Hàng loạt vi phạm bị bỏ qua trong đợt kiểm định ở Geneva

(Geneva) – Hôm nay, Tổ chức Theo dõi Nhân quyền phát biểu rằng Việt Nam đã đệ trình một hình ảnh rất sai thực tế về hồ sơ nhân quyền tại Hội đồng Nhân quyền Liên hiệp Quốc ở Geneva vào ngày 22 tháng Giêng năm 2019.  Lời tuyên bố của chính quyền Việt Nam về việc đã thực thi được 175 trong số 182 khuyến nghị mà Việt Nam đã chấp thuận từ đợt Đánh giá Định kỳ Phổ quát (UPR) năm 2014 rất xa thực tế.

Nhà nước độc đảng Việt Nam hạn chế ngặt nghèo các quyền dân sự và chính trị cơ bản, và đã gia tăng đàn áp mạnh tay đối với các nhà hoạt động và những người bất đồng chính kiến. Tổ chức Theo dõi Nhân quyền, trong Tờ trình Hội đồng Nhân quyền vào tháng Bảy năm 2018 trước đợt UPR của Việt Nam, đã liệt kê chi tiết những cam kết bất thành về cải thiện hồ sơ nhân quyền vì không được chính quyền Việt Nam thực hiện.

“Các nhà lãnh đạo Việt Nam lẽ ra có thể vận dụng phiên kiểm định của Liên hiệp Quốc để thực thi các cải cách về nhân quyền thực sự, nhưng họ lại lún sâu hơn qua việc chối bỏ hồ sơ nhân quyền tồi tệ của mình,” ông Phil Robertson, Phó Giám đốc Ban Á châu của Tổ chức Theo dõi Nhân quyền nói. “Việt Nam cần nhận thấy rằng, khi chỉ có Trung Quốc là quốc gia duy nhất chúc mừng mình về ‘tiến bộ nhân quyền’ thì hiển nhiên là mình đã phạm quá nhiều sai lầm.”

Tại đợt kiểm định UPR này, Thứ trưởng Ngoại giao Lê Hoài Trung phát biểu rằng Việt Nam đảm bảo cho mọi người “quyền bình đẳng trước pháp luật” và được tiếp cận luật sư biện hộ. Nhưng theo Tổ chức Theo dõi Nhân quyền, trên thực tế, hệ thống tư pháp là một công cụ đàn áp của chính quyền, quyền tiếp xúc với luật sư và quyền được xét xử công bằng bị hạn chế. Các luật sư bào chữa không có đủ thời gian để chuẩn bị cho các phiên xử có động cơ chính trị và trình bày ý kiến trước tòa. Hầu hết các phiên xử về tội danh an ninh quốc gia chỉ diễn ra trong chưa đầy một ngày, một số vụ thậm chí chỉ vẻn vẹn trong hai tiếng đồng hồ.

Tổ chức Theo dõi Nhân quyền đã ghi nhận việc bắt giữ tùy tiện đối với ít nhất 63 nhà hoạt động và blogger trong hai năm 2017 và 2018, với vụ gần đây nhất, bắt Nguyễn Văn Viễn, một nhà hoạt động dân chủ, diễn ra chỉ chín ngày trước phiên UPR. Năm 2017, các tòa án đã xử và kết tội ít nhất 15 nhà hoạt động và blogger theo các cáo buộc an ninh quốc gia ngụy tạo, và con số này tăng gần gấp ba lần, lên 42 người, trong năm 2018. Nhiều bản án bị áp ở mức hơn 10 năm tù giam.

Theo luật Việt Nam, nhà cầm quyền có thể từ chối không cho bất cứ ai bị bắt về các tội danh an ninh quốc gia tiếp xúc với luật sư bào chữa vô thời hạn. Ví dụ như, ông Lê Đình Lượng, một nhà hoạt động môi trường, bị bắt vào tháng Bảy năm 2017 và cáo buộc về tội “hoạt động lật đổ chính quyền nhân dân.” Ông bị cấm không được tiếp xúc với luật sư cho tới tận tháng Bảy năm 2018, và một tháng sau đó bị kết án 20 năm tù qua một phiên xử không công bằng. Trong một vụ khác, Nguyễn Danh Dũng, một blogger, đã bị mất tích sau khi bị bắt giữ vào tháng Mười hai năm 2016, dù Đảng bộ và chính quyền tỉnh đã thưởng 150 triệu đồng (tương đương khoảng sáu ngàn rưởi đô la Mỹ) cho ban chuyên án bắt giữ ông, theo tin tức từ báo chí nhà nước.

Tại phiên kiểm định UPR này, Việt Nam tuyên bố rằng đã tôn trọng và tạo điều kiện thực thi quyền tự do tôn giáo. Tổ chức Theo dõi Nhân quyền phát biểu rằng, trên thực tế, quyền tự do tôn giáo và tín ngưỡng bị hạn chế ngặt nghèo ở Việt Nam. Các nhóm tôn giáo không được chính quyền phê duyệt, như các dòng Công giáo, Tin Lành, Cao Đài, Phật giáo và Phật giáo Hòa Hảo độc lập bị theo dõi, sách nhiễu, đe dọa và đàn áp thô bạo. Các thành viên của những nhóm tôn giáo nói trên có nguy cơ bị hành hung dưới bàn tay công an hoặc côn đồ được cho là có liên hệ với chính quyền, bị bắt giữ tùy tiện và bỏ tù. Nhà cầm quyền gọi các nhóm tôn giáo độc lập, như các nhóm Tin Lành Đề Ga của người Thượng ở vùng Tây Nguyên là “tà đạo,” ép buộc thành viên của các nhóm này phải từ bỏ tín ngưỡng, họ còn bị đấu tố trước công chúng, câu lưu và tra tấn.

Tại phiên UPR này, về lĩnh vực tự do báo chí, Việt Nam phát biểu rằng đã có gần 900 cơ quan báo chí, 60 nhà xuất bản và một đài phát thanh phủ sóng gần như khắp cả nước. Tuy nhiên, họ không nói gì tới việc các cơ quan báo chí truyền thông nói trên không hề độc lập và phải phục vụ như công cụ tuyên truyền của chính quyền hay Đảng Cộng sản.

Chính quyền Việt Nam phát biểu rằng “Việt Nam đã trở thành 1 nước có tốc độ phát triển Internet cao nhất thế giới,” với hơn nửa dân số sử dụng Internet và khoảng 58 triệu tài khoản Facebook, nhưng lại lờ đi thực tế rằng theo luật an ninh mạng mới có hiệu lực, hàng chục triệu người sử dụng internet ở Việt Nam sẽ không có quyền bảo mật riêng tư và có thể bị bắt giữ tùy tiện vì đăng tải thông tin bị chính quyền cho là đe dọa tới an ninh quốc gia.

Tương tự, chính quyền nhấn mạnh rằng ở Việt Nam có “hơn 68.000 đoàn thể và tổ chức” như một bằng chứng rằng người dân được hưởng quyền tự do lập hội, nhưng không ghi chú rằng các đoàn thể và tổ chức nói trên đều do nhà nước hay đảng kiểm soát. Chính quyền thường xuyên đàn áp các tổ chức độc lập, chẳng hạn như Hội Anh em Dân chủ và Liên minh Dân tộc Tự quyết Việt Nam. Nhiều nhà lãnh đạo của các tổ chức đó đã bị bắt giữ tùy tiện, khiến việc hoạt động trở nên khó khăn hoặc bất khả thi.

“Các nhà lãnh đạo Việt Nam thường viện cớ an ninh quốc gia để cố biện minh cho chính sách đàn áp các quyền dân sự và chính trị cơ bản,” ông Robertson nói. “Nhưng hệ thống luật pháp và thực thi pháp luật hà khắc của đất nước này không nhằm bảo vệ an ninh quốc gia mà để bảo vệ sự độc tôn quyền lực của Đảng Cộng sản.”

Nguồn: Tổ Chức Theo Dõi Nhân Quyền

Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print

BÀI MỚI

Sách "Chuyện với Thanh" và tác giả Nguyễn Thành Nam

Xã hội sẽ “tử tế” kiểu gì khi “hoàn lưu” những cuộc đấu tố trở lại?

Gieo nỗi sợ, người ta sẽ gặt được sự giả dối. Gieo đấu tố, người ta sẽ gặt sự phản trắc. Gieo thói quen kết tội người khác để bảo vệ mình, người ta sẽ tạo ra một xã hội trong đó không ai thực sự bảo vệ ai. Đến một ngày nào đó, khi chính quyền cần sự dấn thân, lòng can đảm và tinh thần trách nhiệm của công dân, điều họ nhận lại có thể chỉ là những khuôn mặt im lặng, những lời nói theo mẫu và một xã hội đã rút hết sinh khí vào bên trong.

Cuốn sách "Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng" bị thu hồi và tiêu hủy. Ảnh: Nhà xuất bản Hội Nhà Vă

Vụ Nguyễn Thành Nam và màn kịch bệnh hoạn của cả một xã hội

Càng theo dõi diễn biến của vụ việc Nguyễn Thành Nam, người ta càng nhận ra đây không phải là một vụ án “thông thường.” Điều khiến nó trở nên đặc biệt không nằm ở điều luật được áp dụng, mà nằm ở chính con người bị áp dụng điều luật ấy.

Bởi lần đầu tiên trong nhiều thập niên, một người từng công khai giảng dạy môn Tư tưởng Hồ Chí Minh, viết sách với mong muốn làm cho người trẻ hiểu và yêu Hồ Chí Minh hơn, lại bị cáo buộc là người “tuyên truyền chống Nhà nước.”

Ông Tô Lâm phát biểu tại Hội nghị Sơ kết 1 năm vận hành cơ chế mới tổ chức vào ngày 1 tháng 7, 2026. Ảnh chụp từ trang mạng Thể Thao & Văn Hóa

Điểm nghẽn của chế độ Tô Lâm

Điểm nghẽn lớn nhất của Việt Nam hôm nay không còn chỉ là thể chế hay năng lực thực thi. Điểm nghẽn sâu xa hơn là mục tiêu phát triển.

Một quốc gia sẽ đi theo đúng mục tiêu mà nó lựa chọn. Nếu mục tiêu cao nhất là duy trì quyền lực, thì mọi chính sách cuối cùng sẽ phục vụ cho việc bảo vệ quyền lực. Nhưng nếu mục tiêu cao nhất là con người và dân tộc Việt Nam, thì toàn bộ hệ thống chính trị, giáo dục, kinh tế và văn hóa sẽ phải được tổ chức lại để khai mở tiềm năng của con người.

Thủ đô Seoul của Hàn Quốc. Quốc gia này là một trong số những ví dụ thành công về việc thoát khỏi “bẫy thu nhập trung bình.” Ảnh: Gije Cho - Pexels

Bẫy thu nhập trung bình

Cái bẫy này người ta gọi là Bẫy thu nhập trung bình, thuật ngữ do hai nhà kinh tế Indermit Gill và Homi Kharas đặt ra năm 2007, khi họ đang nghiên cứu chiến lược phát triển cho các nước Đông Á.

Ý tưởng cốt lõi thì đơn giản thôi: Một quốc gia nghèo có thể tăng trưởng khá nhanh nhờ mấy lợi thế có sẵn, tài nguyên, nhân công rẻ, hay viện trợ nước ngoài. Nhưng đến một ngưỡng nào đó, mọi thứ chững lại. Lương tăng lên rồi, thế là mất luôn lợi thế “rẻ.”