Việt Nam và Sáng kiến Vành đai và Con đường của Trung Quốc

Tham vọng "Một vành đai, một con đường" của Bắc Kinh. Ảnh: Bloomberg
Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print
Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print

Diễn đàn Cấp cao Hợp tác Quốc tế Vành đai và Con đường (BRI) lần thứ ba tổ chức tại Bắc Kinh vừa bế mạc hôm kia (18/10/2023).

BRI là chương trình phát triển quốc tế hoành tráng do Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình chủ trương năm 2013. Đây là sáng kiến nối Trung Quốc với Á châu và Âu châu, gồm một Vành đai (One Belt) xuyên lục địa từ Trung Quốc qua vùng Trung Á đến Âu châu, và một Con đường (One Road) từ Trung Quốc xuyên qua Biển Đông và Ấn Độ dương đến châu Âu.

BRI ra đời đúng lúc kinh tế Trung Quốc phát triển mạnh mẽ và cũng là lúc Tập Cận Bình trở thành lãnh đạo tối cao với tham vọng thực hiện giấc mơ Trung Hoa đưa Trung Quốc trở lại thời hoàng kim. Mục đích của BRI được đề ra là chia sẻ thành quả phát triển với các nước liên quan qua hợp tác xây dựng cơ sở hạ tầng. Một trong những công cụ thực hiện là lập Ngân hàng Đầu tư Hạ tầng Á châu (AIIB). Trung Quốc hy vọng qua sáng kiến này trước mắt là đẩy mạnh xuất khẩu hàng công nghiệp nặng (điển hình là thép) đang sản xuất dư thừa, và trong dài hạn tạo quan hệ thân thiện với các nước tham gia BRI.

Qua 10 năm thực hiện, nhìn chung BRI không đạt mục tiêu như Trung Quốc mong muốn. Những nước tham gia BRI tích cực thì mắc vào bẫy nợ như Sri Lanka và Lào, hoặc có nguy cơ phụ thuộc sâu vào Trung Quốc như Cambodia. Cảng biển Shihanoukville của Cambodia được xem như là mô hình của việc tham gia BRI. Vốn đầu tư do Trung Quốc cung cấp, và kết quả là tư bản Trung Quốc chiếm tới 95% khách sạn, nhà hàng ở đây và thành phố biển nầy tràn ngập trung tâm du lịch (resorts) và sòng bạc (casino) với các bảng hiệu bằng tiếng Trung Quốc.

Ở Âu châu nước tiên tiến duy nhất tham gia BRI là Ý nhưng gần đây đã tuyên bố rút lui vì thấy không có lợi ích như kỳ vọng. Tàu chở hàng Trung Á được xây dựng để chuyển chở hàng hóa giữa Trung Quốc và các nước Âu châu là một biểu tượng cụ thể của BRI nhưng hoạt động rất kém, kết cuộc chủ yếu được dùng cho di chuyển vật tư, hàng hóa giữa Trung Quốc và Nga. Theo điều tra của Viện Nghiên cứu Tổng hợp Daiwa, từ 2012 đến 2022, hơn 150 nước đã ký cam kết tham gia BRI nhưng mậu dịch giữa họ với Trung Quốc không tăng đáng kể, trừ Nga và một số nước ASEAN.

Trong thời gian qua có yếu tố khách quan là đại dịch trong các năm 2021-2022 làm đình trệ nhiều dự án, nhưng chủ yếu là do chủ quan và tham vọng của Trung Quốc muốn áp đặt và chi phối những nước cần vay vốn của họ để xây hạ tầng.

Có lẽ đã thấy kết quả 10 năm qua không như mong muốn và bị thế giới phê phán, trong bài phát biểu khai mạc Diễn đàn lần này Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình chủ trương sẽ ưu tiên chất lượng dự án và tăng tính tự chủ của các nước tham gia.

Việt Nam ở tư thế và vị trí không thể không tham gia BRI nhưng cần thận trọng đối với các dự án cụ thể nhất là nên so sánh các điều kiện về công nghệ, về vốn giữa Trung Quốc với các nước khác như Mỹ, Nhật. Một điểm quan trọng nữa là cần tránh phụ thuộc quá sâu vào kinh tế Trung Quốc (hay với kinh tế một nước nào khác).

Hiện nay, tuy chưa tham gia cụ thể vào các dự án lớn liên quan BRI, nhưng Trung Quốc đã chiếm một vị trí rất lớn trong nhập khẩu (trên 30% những năm gần đây) và đầu tư nước ngoài (FDI) tại Việt Nam (vị trí số 2 trong 9 tháng đầu năm 2023. Nếu gộp Hong Kong vào Trung Quốc thì Trung Quốc chiếm vị trí số 1).

Trung Quốc đã đầu tư nhiều tại Việt Nam nhưng cho đến nay chưa thấy có dự án nào có trình độ công nghệ cao và quy mô lớn để có thể góp phần làm chuyển dịch cơ cấu công nghiệp của Việt Nam lên cao hơn. Đó là chưa xét đến các yếu tố về chất như trình độ quản trị doanh nghiệp (corporate governance) và văn hóa kinh doanh, những yếu tố thường chưa được xác lập tại những nước mới phát triển.

GS Trần Văn Thọ

Nguồn: FB Tran Van Tho

XEM THÊM:

 

Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print

BÀI MỚI

Sách "Chuyện với Thanh" và tác giả Nguyễn Thành Nam

Xã hội sẽ “tử tế” kiểu gì khi “hoàn lưu” những cuộc đấu tố trở lại?

Gieo nỗi sợ, người ta sẽ gặt được sự giả dối. Gieo đấu tố, người ta sẽ gặt sự phản trắc. Gieo thói quen kết tội người khác để bảo vệ mình, người ta sẽ tạo ra một xã hội trong đó không ai thực sự bảo vệ ai. Đến một ngày nào đó, khi chính quyền cần sự dấn thân, lòng can đảm và tinh thần trách nhiệm của công dân, điều họ nhận lại có thể chỉ là những khuôn mặt im lặng, những lời nói theo mẫu và một xã hội đã rút hết sinh khí vào bên trong.

Cuốn sách "Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng" bị thu hồi và tiêu hủy. Ảnh: Nhà xuất bản Hội Nhà Vă

Vụ Nguyễn Thành Nam và màn kịch bệnh hoạn của cả một xã hội

Càng theo dõi diễn biến của vụ việc Nguyễn Thành Nam, người ta càng nhận ra đây không phải là một vụ án “thông thường.” Điều khiến nó trở nên đặc biệt không nằm ở điều luật được áp dụng, mà nằm ở chính con người bị áp dụng điều luật ấy.

Bởi lần đầu tiên trong nhiều thập niên, một người từng công khai giảng dạy môn Tư tưởng Hồ Chí Minh, viết sách với mong muốn làm cho người trẻ hiểu và yêu Hồ Chí Minh hơn, lại bị cáo buộc là người “tuyên truyền chống Nhà nước.”

Ông Tô Lâm phát biểu tại Hội nghị Sơ kết 1 năm vận hành cơ chế mới tổ chức vào ngày 1 tháng 7, 2026. Ảnh chụp từ trang mạng Thể Thao & Văn Hóa

Điểm nghẽn của chế độ Tô Lâm

Điểm nghẽn lớn nhất của Việt Nam hôm nay không còn chỉ là thể chế hay năng lực thực thi. Điểm nghẽn sâu xa hơn là mục tiêu phát triển.

Một quốc gia sẽ đi theo đúng mục tiêu mà nó lựa chọn. Nếu mục tiêu cao nhất là duy trì quyền lực, thì mọi chính sách cuối cùng sẽ phục vụ cho việc bảo vệ quyền lực. Nhưng nếu mục tiêu cao nhất là con người và dân tộc Việt Nam, thì toàn bộ hệ thống chính trị, giáo dục, kinh tế và văn hóa sẽ phải được tổ chức lại để khai mở tiềm năng của con người.

Thủ đô Seoul của Hàn Quốc. Quốc gia này là một trong số những ví dụ thành công về việc thoát khỏi “bẫy thu nhập trung bình.” Ảnh: Gije Cho - Pexels

Bẫy thu nhập trung bình

Cái bẫy này người ta gọi là Bẫy thu nhập trung bình, thuật ngữ do hai nhà kinh tế Indermit Gill và Homi Kharas đặt ra năm 2007, khi họ đang nghiên cứu chiến lược phát triển cho các nước Đông Á.

Ý tưởng cốt lõi thì đơn giản thôi: Một quốc gia nghèo có thể tăng trưởng khá nhanh nhờ mấy lợi thế có sẵn, tài nguyên, nhân công rẻ, hay viện trợ nước ngoài. Nhưng đến một ngưỡng nào đó, mọi thứ chững lại. Lương tăng lên rồi, thế là mất luôn lợi thế “rẻ.”