Xuất khẩu nông sản: Cái giá mà đất nước đang trả

Lũ lụt ở miền Trung. Ảnh: Tuổi Trẻ
Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print
Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print

Lê Thọ Bình

(Mấy hôm nay nhìn lũ lụt hoành hành ở miền Trung mà ruột đau như thắt lại. Chợt nhớ câu nói mà Tổng Bí thư Tô Lâm phát biểu tại thảo luận tổ Quốc hội hôm 4/11 vừa qua: “Việt Nam xuất khẩu 8 triệu tấn gạo, nhưng nếu hạch toán kỹ, có khi lỗ vốn.”)

Ở một quốc gia mà nông sản luôn giữ vai trò trụ cột, đây không chỉ là một nhận định kỹ thuật về kinh tế, mà là lời cảnh báo về tương lai phát triển.

Những thành tích xuất khẩu mà báo chí tung hô đang tạo cảm giác hưng phấn, nhưng đằng sau chúng là những câu hỏi chưa được trả lời.

Gạo, cà phê, hạt điều, hồ tiêu, thanh long, tôm, gỗ… Những con số kỷ lục về xuất khẩu luôn khiến chúng ta tự hào, và đúng là Việt Nam có quyền tự hào. Năng lực cạnh tranh của nông sản Việt Nam không chỉ nằm ở năng suất mà còn ở khả năng đáp ứng thị trường, sự linh hoạt của người nông dân và doanh nghiệp.

Nhưng tăng trưởng về số lượng không đồng nghĩa với tăng trưởng về giá trị. Và tăng trưởng về giá trị đôi khi cũng không đồng nghĩa với tăng trưởng đời sống nông dân.

Câu hỏi lớn nhất vẫn còn bỏ ngỏ: Người nông dân, những người trực tiếp làm ra sản phẩm, có khá lên hay không? Và đất nước được gì khi đổi tài nguyên lấy ngoại tệ?

Trong nhiều năm, tăng trưởng xuất khẩu nông sản được xem như bằng chứng của sức mạnh nông nghiệp Việt Nam.

Nhưng nếu đi sâu vào cấu trúc giá trị, chúng ta thấy một thực tế: Nông dân chỉ giữ một phần rất nhỏ trong chuỗi giá trị, trong khi phần lợi nhuận lớn nằm ở trung gian, chế biến, logistics và thương mại quốc tế.

Gạo Việt Nam bán FOB 700 USD/tấn, nhưng nông dân chỉ nhận được khoảng 30–35% giá trị đó; cà phê xuất khẩu hàng tỷ USD mỗi năm nhưng 90% dưới dạng thô; tôm cá tăng trưởng nhanh nhưng rủi ro bệnh dịch, giá thức ăn, chi phí đầu vào luôn đẩy nông dân vào cảnh được mùa mất giá, được giá mất mùa.

Nếu tính đúng, tính đủ tất cả chi phí: Đất, nước, phân bón, năng lượng, môi trường, thì nhiều mặt hàng có thể… không có lãi.

Đó chính là “giá vô hình” mà xã hội đang gánh thay cho tăng trưởng xuất khẩu.

Một hecta đất lúa ở đồng bằng sông Cửu Long được khai thác 20 – 30 năm không ngừng nghỉ, dinh dưỡng kiệt quệ, phải bù đắp bằng phân bón và hóa chất. Mỗi vụ lúa cần 3.000 – 4.000 m³ nước; với 4 vụ/năm, con số ấy vượt xa mức tái tạo của hệ thống sông ngòi đang chịu áp lực biến đổi khí hậu.

Thủy sản thâm canh gây ô nhiễm nước ngầm; cao su và cà phê mở rộng làm mất đa dạng sinh học; hồ tiêu từng là “vàng đen” của Tây Nguyên nhưng đã bỏ lại những vùng đất bạc màu. Nếu tính toàn bộ chi phí môi trường ấy vào giá thành sản phẩm, chúng ta sẽ thấy câu nói của tổng bí thư hoàn toàn chính xác: “Có khi lỗ vốn.”

Và đó là cái bẫy mà nhiều quốc gia tài nguyên đã rơi vào: Bẫy tài nguyên. Khi một quốc gia dựa quá nhiều vào khai thác tài nguyên, đất, rừng, nước, để xuất khẩu, họ có thể “giàu lên” trên giấy tờ, nhưng đất nước thì nghèo đi về tài nguyên, và người dân thì không thực sự cải thiện cuộc sống.

Hơn bao giờ hết, an ninh lương thực, an ninh năng lượng và “chủ quyền xanh” đã trở thành cấu phần quan trọng của sức mạnh quốc gia. Một quốc gia không kiểm soát được đất, nước, nguồn gen, dữ liệu nông nghiệp và chuỗi cung ứng nông sản của mình thì sẽ không thể kiểm soát được tương lai kinh tế và chính trị.

Vậy thì không nên xuất khẩu nông sản?

Vấn đề không nằm ở việc “không nên xuất khẩu.” Việt Nam cần xuất khẩu để hội nhập, để tạo giá trị, để có nguồn thu. Vấn đề là xuất khẩu gì, theo cách nào, và ai được hưởng lợi.

Hiện nay, chúng ta xuất khẩu nhiều vì… rẻ. Và rẻ vì chưa tính đúng, tính đủ chi phí tài nguyên, môi trường. Nông dân vẫn nghèo vì họ chỉ bán “đầu ra thô,” trong khi chuỗi giá trị quyết định bởi doanh nghiệp chế biến và các nhà phân phối quốc tế. Nhà nước thu được ngoại tệ, nhưng lại phải chi ngân sách để khắc phục hệ lụy môi trường, sụt lún, xâm nhập mặn, ô nhiễm đất, và bão lũ như ở miền Trung đang diễn ra…, những thứ không thể phục hồi bằng tiền.

Nếu không thay đổi, Việt Nam có thể rơi vào tình thế trớ trêu: Xuất khẩu nhiều nhưng mất dần quyền tự chủ về đất và nước, tức mất dần chính nền tảng của an ninh quốc gia.

Vậy đâu là lối thoát?

Thứ nhất, phải chuyển từ tư duy sản lượng sang tư duy giá trị. Không phải bao nhiêu triệu tấn gạo, mà là bao nhiêu đồng lợi nhuận trên mỗi mét vuông canh tác. Không phải bao nhiêu container cà phê, mà là bao nhiêu sản phẩm chế biến sâu, có thương hiệu, có quyền sở hữu trí tuệ. Thay vì bán thô ra thế giới, Việt Nam phải bán tri thức, giống tốt, quy trình canh tác, công nghệ sau thu hoạch và chuỗi cung ứng bền vững.

Thứ hai, cần tính đúng, tính đủ chi phí môi trường vào đánh giá hiệu quả sản xuất. Nếu một sản phẩm cần lượng nước vượt quá khả năng tái tạo, cần lượng hóa chất vượt ngưỡng an toàn, gây mất rừng hoặc suy thoái đất, thì nó không thể được xem là “có lãi” chỉ vì mang về vài tỷ USD ngoại tệ. Sự chính xác trong hạch toán là điều kiện để tránh bẫy tài nguyên.

Thứ ba, phải tái cấu trúc quyền lực trong chuỗi giá trị. Nông dân Việt Nam quá nhỏ lẻ để có tiếng nói. Cần những hợp tác xã kiểu mới, những liên minh nông dân – doanh nghiệp – ngân hàng – nhà nước, dựa trên dữ liệu, công nghệ và hợp đồng dài hạn. Khi nông dân được chia sẻ giá trị thực, họ mới đầu tư vào sản xuất xanh, bền vững.

Thứ tư, đổi mới triệt để về tích tụ ruộng đất, khoa học giống, công nghệ số trong nông nghiệp. Nền nông nghiệp dựa trên hộ gia đình nhỏ sẽ không thể cạnh tranh với Thái Lan, Brazil hay Úc, những quốc gia có hệ thống trang trại quy mô lớn, cơ giới hóa hoàn toàn, công nghệ cao từ giống, tưới tiết kiệm đến quản lý đất đai bằng dữ liệu vệ tinh.

Cuối cùng, Việt Nam cần chiến lược “chủ quyền xanh” như một trụ cột quốc gia: Bảo vệ tài nguyên đất – nước – rừng, phát triển giống cây trồng nội địa, quản lý dữ liệu nông nghiệp quốc gia, và kiểm soát chặt chẽ chất lượng xuất khẩu. Đây không chỉ là vấn đề kinh tế, mà là vấn đề an ninh quốc gia trong thời đại biến đổi khí hậu.

Tóm lại, xuất khẩu không phải mục tiêu cuối cùng; mục tiêu là nông dân giàu lên, tài nguyên được bảo vệ, và quốc gia giữ được quyền tự chủ. Thành tích xuất khẩu chỉ có ý nghĩa khi nó tạo ra sự thịnh vượng thật sự, cho người dân hôm nay và cho đất nước mai sau.

Nếu không thay đổi, chúng ta sẽ tiếp tục bán đi tương lai của đất – nước – nguồn gen để đổi lấy những con số tăng trưởng ngắn hạn.

Có người sẽ bảo, “Biết rồi, khổ lắm, nói mãi,” nhưng vẫn phải nói, xin lỗi mọi người!

Nguồn: Tạp chí Thế Kỷ Mới

 

 

Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print

BÀI MỚI

Biểu tình chống Dự luật Đặc khu tại Sài Gòn hôm 10/6/2018. Ảnh: VNTB

Biểu tình: Một quyền chính trị quan trọng bị cấm kỵ

Xuyên suốt lịch sử lập hiến của Việt Nam, quyền hội họp và biểu tình luôn được ghi nhận trong các bản Hiến pháp năm 1959 tại Điều 25, Hiến pháp 1980 tại Điều 67, và Hiến pháp 1992 tại Điều 69. Tuy nhiên,  thực tế lịch sử lại không như vậy.

Cho đến nay, Điều 25 của Hiến pháp 2013 vẫn khẳng định công dân có quyền tự do ngôn luận, báo chí, hội họp và biểu tình. Thế nhưng, quyền biểu tình và hội họp vẫn bị treo vô thời hạn!

Ảnh minh họa: Internet

Phát triển và thu hút nhân tài từ nhỏ – trong nước nói, nước ngoài làm

Trong khi Việt Nam vẫn đang hô hào “trọng dụng nhân tài” ở mọi cấp độ, các quốc gia khác đã âm thầm thu hút nguồn lực xuất sắc của chúng ta từ lúc các em còn ngồi trên ghế lớp 8, lớp 9.

Không phải ngẫu nhiên mà Singapore triển khai hai chương trình học bổng lớn – ASEAN Scholarship và A*STAR Scholarship – nhắm trực tiếp vào học sinh Việt Nam từ độ tuổi 14–16.

Ông Tô Lâm phát biểu tại Diễn đàn Đối thoại Shangri-La, Singapore hôm thứ Sáu 29/5/2026. Ảnh: Reuters

Tô Lâm: Ngoại giao một đằng, nội trị một nẻo?

Đó là nghịch lý lớn nhất của đời sống chính trị Việt Nam hiện nay. Đối ngoại thì nói ngôn ngữ của đối thoại, nhưng đối nội lại vận hành bằng ngôn ngữ của kiểm soát. Đối ngoại thì kêu gọi tôn trọng khác biệt, nhưng đối nội lại rất ít chỗ cho những tiếng nói khác biệt. Đối ngoại thì nói về hòa bình, nhưng đối nội lại duy trì một không khí khiến nhiều người e ngại khi bày tỏ quan điểm của mình về những vấn đề hệ trọng của đất nước.

Ảnh minh họa: Mạc Đĩnh Chi đi sứ sang Tàu

Mạc Đĩnh Chi – Nhà ngoại giao hay thi sĩ

Khi sứ đoàn Đại Việt chuẩn bị hồi hương, triều đình nhà Nguyên báo tin một công chúa được vua hết mực yêu thương vừa qua đời. Mạc Đĩnh Chi lại được triệu vào để đọc điếu văn cho công chúa. Theo lời truyền đạt, Mạc Đĩnh Chi sẽ được giao cho một bài điếu văn đã được viết sẵn. Tuy nhiên, khi mở trang giấy, trước mắt ông chỉ có duy nhất một chữ: “Nhất”!

Chỉ sau một thoáng lặng im, Trạng nguyên Mạc Đĩnh Chi đã xuất thần đọc một bài điếu…