Phá rừng làm thủy điện: ác mộng tại Tây Bắc

Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print
Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print

Nhiều nơi trên địa bàn tỉnh Hà Giang chìm trong biển lũ trong tuần lễ giữa tháng 6 vừa qua. Do nước từ đầu nguồn đổ về, cộng với việc các hồ thủy điện đồng loạt xả lũ nên người dân địa phương bị bất ngờ, không kịp trở tay. Chỉ trong vài ngày lũ, ước tính sơ bộ có tới 24 người chết, nhà cửa và nhiều tài sản có giá trị cuốn trôi theo dòng nước. Đồng thời, diện tích hoa màu bị mất trắng lên đến hàng trăm ha và nhiều tuyến đê kè bị sạt lở nghiêm trọng.

Lũ ống, lũ quét và sạt lở đất là chuyện không mới ở Tây Bắc khi mùa mưa về. Tuy nhiên nếu như trước đây lũ từ thượng nguồn chảy về hạ lưu phải mất hàng chục giờ, thì trong 2 năm gần đây con số đó chỉ mất khoảng vài giờ, kéo theo đó là những thảm họa liên tục diễn ra. Theo các nhà khoa học, thiệt hại nặng nề đó là hệ quả của việc nhà cầm quyền Việt Nam tàn phá rừng đầu nguồn để xây dựng các nhà máy thủy điện.

Thực tế cho thấy, diện tích rừng phòng hộ đầu nguồn ở các tỉnh miền núi phía Bắc đang bị tàn phá dữ dội. CSVN sử dụng cụm từ mỹ miều “chuyển đổi diện tích rừng tự nhiên” thay cho việc phá rừng để làm các công trình thủy điện. Trong quá trình xin đầu tư dự án thủy điện, các nhà đầu tư luôn trình bày phương án trồng bù diện tích rừng bị phá, nhưng báo cáo của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn năm 2012 cho thấy, chỉ có 3,7% diện tích rừng đã bị mất được các nhà đầu tư trồng bù. Những cuộc phá rừng này là nguyên nhân chính khiến đường đi của nước lũ trở nên hung hãn hơn.

Theo tính toán, chính các nhà đầu tư được hưởng lợi từ thủy điện chứ không phải là người dân. Thực tế, việc khai thác gỗ từ diện tích rừng làm thủy điện là nguồn lợi kếch xù và nhanh nhất mà các nhà đầu tư thủy điện nhỏ hướng đến. Đó là nguyên nhân các nhà máy thủy điện nhỏ được quy hoạch và xây dựng một cách ồ ạt suốt thời gian qua.

Tính đến năm 2017, trên địa bàn tỉnh Hà Giang có 46 dự án thủy điện. Một số dòng sông như sông Miện, sông Nho Quế, sông Lô, sông Chảy phải gánh từ 3-6 nhà máy. Dù chỉ là một phụ lưu của sông Lô, nhưng sông Miện hiện có tới 6 thủy điện là: Sông Miện 5, Sông Miện 5A, Thái An, Sông Miện (Bát Đại Sơn), Sông Miện 6, và Thuận Hòa.

Tuy nhiên, do thi công không đảm bảo kỹ thuật, nhiều công trình thủy điện nhỏ rất mong manh trước những cơn mưa lớn tại đầu nguồn. Bên cạnh đó, thiết kế của thủy điện nhỏ không có lòng hồ nên nó không có tác dụng cắt lũ. Lúc này, lòng sông bị thắt thành khúc như túi nước trên cao đe dọa nguy hiểm người dân vùng hạ lưu. Thực tế, hầu như năm nào cũng có những đợt xả lũ của các nhà máy thủy điện làm hư hại nhà cửa, cây trồng và cướp đi cả tính mạng con người.

Mưa lớn thì sẽ xảy ra lũ, nhưng chắc chắn mức độ sẽ giảm nếu còn những cánh rừng nguyên sinh giúp giữ nước, giữ đất làm chậm tốc độ nước chảy xuống hạ du. Mất rừng, hệ lụy tất yếu là làm thay đổi môi trường, khiến những cơn lũ ống, lũ quét, bão, lốc, sạt lở đất ngày càng trở nên hung bạo, khốc liệt. Số người chết, mất tích vì lũ cũng từ đấy mà tăng dần. Chỉ tính từ đầu mùa mưa lũ năm 2017 đến nay, tại các tỉnh Tây Bắc đã có trên 70 người chết và mất tích,  hơn 4.000 ngôi nhà bị sập, hơn 13.000 hộ dân đang sinh sống tại những nơi không đủ an toàn… Thiệt hại ước tính khoảng 5.000 tỷ đồng (tương đương với 218 triệu Mỹ Kim).

Tại Hội nghị toàn quốc về “Phát triển thủy điện vừa và nhỏ, năng lượng tái tạo”, ngày 28/7/2017, Vụ Năng lượng Tái tạo – Tổng cục Năng lượng CSVN, cho biết sẽ tiếp tục “ưu tiên phát triển thủy điện, nhất là các dự án đa mục tiêu. Đưa tổng công suất các nguồn thủy điện từ 17.000 MW hiện nay lên 21.600 MW năm 2020, 24.600 MW năm 2025”. Tuy nhiên, theo các chuyên gia sinh quyển, để tạo ra 1 MW điện, phải chặt ít nhất 10-30 ha rừng, và để có 1.000 ha hồ chứa nước cũng cần san phẳng từ 1.000 – 2.000 ha đất rừng.

Như vậy, rừng đầu nguồn tại Việt Nam sẽ tiếp tục bị phá tan hoang thêm một khoảng lớn để làm thủy điện, môi sinh tiếp tục bị hủy hoại và cuộc sống người dân ở những khu vực triển khai dự án sẽ tiếp tục long đong. Và đến bây giờ, cái giá của chúng đã hiển hiện ngay trước mắt bằng mạng người chết, bằng nhà cửa đổ nát và hoa màu mất mát… Trong khi đó, lợi nhuận từ rừng thì liên tục chảy vào túi đại gia và quan tham.

 

Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print

BÀI MỚI

Sách "Chuyện với Thanh" và tác giả Nguyễn Thành Nam

Xã hội sẽ “tử tế” kiểu gì khi “hoàn lưu” những cuộc đấu tố trở lại?

Gieo nỗi sợ, người ta sẽ gặt được sự giả dối. Gieo đấu tố, người ta sẽ gặt sự phản trắc. Gieo thói quen kết tội người khác để bảo vệ mình, người ta sẽ tạo ra một xã hội trong đó không ai thực sự bảo vệ ai. Đến một ngày nào đó, khi chính quyền cần sự dấn thân, lòng can đảm và tinh thần trách nhiệm của công dân, điều họ nhận lại có thể chỉ là những khuôn mặt im lặng, những lời nói theo mẫu và một xã hội đã rút hết sinh khí vào bên trong.

Cuốn sách "Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng" bị thu hồi và tiêu hủy. Ảnh: Nhà xuất bản Hội Nhà Vă

Vụ Nguyễn Thành Nam và màn kịch bệnh hoạn của cả một xã hội

Càng theo dõi diễn biến của vụ việc Nguyễn Thành Nam, người ta càng nhận ra đây không phải là một vụ án “thông thường.” Điều khiến nó trở nên đặc biệt không nằm ở điều luật được áp dụng, mà nằm ở chính con người bị áp dụng điều luật ấy.

Bởi lần đầu tiên trong nhiều thập niên, một người từng công khai giảng dạy môn Tư tưởng Hồ Chí Minh, viết sách với mong muốn làm cho người trẻ hiểu và yêu Hồ Chí Minh hơn, lại bị cáo buộc là người “tuyên truyền chống Nhà nước.”

Ông Tô Lâm phát biểu tại Hội nghị Sơ kết 1 năm vận hành cơ chế mới tổ chức vào ngày 1 tháng 7, 2026. Ảnh chụp từ trang mạng Thể Thao & Văn Hóa

Điểm nghẽn của chế độ Tô Lâm

Điểm nghẽn lớn nhất của Việt Nam hôm nay không còn chỉ là thể chế hay năng lực thực thi. Điểm nghẽn sâu xa hơn là mục tiêu phát triển.

Một quốc gia sẽ đi theo đúng mục tiêu mà nó lựa chọn. Nếu mục tiêu cao nhất là duy trì quyền lực, thì mọi chính sách cuối cùng sẽ phục vụ cho việc bảo vệ quyền lực. Nhưng nếu mục tiêu cao nhất là con người và dân tộc Việt Nam, thì toàn bộ hệ thống chính trị, giáo dục, kinh tế và văn hóa sẽ phải được tổ chức lại để khai mở tiềm năng của con người.

Thủ đô Seoul của Hàn Quốc. Quốc gia này là một trong số những ví dụ thành công về việc thoát khỏi “bẫy thu nhập trung bình.” Ảnh: Gije Cho - Pexels

Bẫy thu nhập trung bình

Cái bẫy này người ta gọi là Bẫy thu nhập trung bình, thuật ngữ do hai nhà kinh tế Indermit Gill và Homi Kharas đặt ra năm 2007, khi họ đang nghiên cứu chiến lược phát triển cho các nước Đông Á.

Ý tưởng cốt lõi thì đơn giản thôi: Một quốc gia nghèo có thể tăng trưởng khá nhanh nhờ mấy lợi thế có sẵn, tài nguyên, nhân công rẻ, hay viện trợ nước ngoài. Nhưng đến một ngưỡng nào đó, mọi thứ chững lại. Lương tăng lên rồi, thế là mất luôn lợi thế “rẻ.”