Gạo, nỗi lo của người Việt Nam

Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print
Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print

Ngày 22 tháng Ba, báo chí Việt Nam và mạng xã hội nổi sóng khi được biết Trung Quốc nhập khẩu ào ạt gạo của Việt Nam. Trong 2 tháng đầu năm 2020, số gạo xuất sang Trung Quốc tăng 7 lần về sản lượng, 8 lần về giá trị so với cùng thời gian của năm 2019.

Ngày 23 tháng Ba, trước áp lực của dư luận, ông Nguyễn Xuân Phúc yêu cầu Tổng Cục Hải Quan tạm ngưng xuất khẩu gạo sau 0g ngày 24 tháng Ba. Chỉ thị này gây hoảng loạn giới nông dân và các lái buôn gạo. Ngay sau đó, Bộ Công Thương có văn bản hoả tốc đề nghị thủ tướng cho hoãn quyết định trên,

Trong lúc đại dịch coronavirus tiếp tục hoành hành, cuộc tranh luận về việc xuất hay không xuất gạo trở nên gay gắt và cho đến nay vẫn chưa có dấu hiệu chấm dứt.

Phe đề nghị dừng xuất khẩu gạo cho rằng nhu cầu bảo đảm an ninh lương thực trong nước vẫn là trên hết. Dịch Covid-19 diễn biến phức tạp, không ai đoán trước kết cuộc sẽ ra sao. Việt Nam cần cố thủ lương thực cho chắc ăn. Trên thế giới, nhiều nước đã áp dụng các biện pháp cố thủ lương thực này. Serbia cấm xuất khẩu dầu hướng dương và nhiều sản phẩm khác. Một số nước Bắc Phi cũng lấy quyết định tạm ngưng xuất khẩu lương thực. Kazakhstan, một trong những nước xuất khẩu bột mì lớn nhất thế giới, đã cấm xuất khẩu sản phẩm này và nhiều loại lương thực khác. Nga cũng cho biết đang nghiên cứu việc có nên tiếp tục xuất khẩu lúa mì hay không và sẽ quyết định trong vài ngày tới.

Phe đề nghị nên tiếp tục xuất khẩu cho rằng việc dừng xuất khẩu gạo sẽ gây thiệt hại lớn cho doanh nghiệp cũng như nông dân trồng lúa. Điều này sẽ khiến giá lúa gạo giảm mạnh, nông dân rơi vào tình cảnh được mùa nhưng mất giá. Theo họ thì vụ Đông Xuân vừa qua, Đồng bằng sông Cửu Long được mùa. Lượng lúa gạo trong dân và doanh nghiệp rất lớn, trên 6,5 triệu tấn gạo cần được bán nhanh, để có kho thu mua các vụ tiếp theo. Hơn nữa, Việt Nam cũng không lo thiếu gạo, vì dịch Covid-19 không ảnh hưởng đến sản xuất nông nghiệp, đặc biệt là lúa gạo.

Còn Trung Quốc thì sao? Nước này không những ngưng xuất khẩu nhiều loại nhu yếu phẩm, mà còn đang nỗ lực bổ sung vào kho dự trữ lương thực chiến lược của họ. Là nước sản xuất gạo nhiều nhất thế giới, Trung Quốc có khu dự trữ gạo và lúa mì đủ dùng trên một năm, nhưng họ vẫn chưa cho là đủ, nên đang ráo riết thu mua lúa gạo. Việt Nam là một trong những nguồn cung cấp chính. Đây là lý do mà sự xuất khẩu từ Việt Nam sang Trung Quốc đột nhiên tăng vọt, khiến dư luận phải chú ý và đặt vấn đề.

Trung Quốc thì có chủ trương rất rõ ràng. Còn Việt Nam thì sao?

Nước ta mặc dù có tiếng là nước xuất khẩu gạo trong hàng top của thế giới, nhưng về mặt an ninh lương thực nội địa, chỉ đứng thứ 57/113 quốc gia, đây là mức trung bình, do ngành nông nghiệp vẫn còn nhiều bất cập. Do đó, nếu gặp một cuộc khủng hoảng lớn, như nạn đại dịch hiện nay, Việt Nam có thể mau chóng rơi vào tình trang thiếu lương thực và một bộ phận không nhỏ của xã hội sẽ thiếu đói, do sự chênh lệch giàu nghèo và những bất công trong xã hội.

Trong lúc đó, giá gạo trên thị trường thế giới vẫn tiếp tục tăng cao. Thái Lan là nước gần như duy nhất cho xuất khẩu gạo, nên độc chiếm thị trường thế giới. Giá gạo nội địa cũng tiếp tục tăng, so với thời điểm trước khi dịch thì giá đã tăng từ 20 đến 30%. Nhà cầm quyền thì đang chờ các bộ báo cáo, đưa đề nghị và chờ sau ngày 6 tháng Tư mới có quyết định chung cuộc. Cuộc tranh luận về việc xuất hay không vẫn tiếp tục nóng.

Hình như trong cuộc tranh luận này, vấn đề ngập mặn ở Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) không thấy đề cập đến. Hình như, ai cũng cho là nay mai, khi hết mùa khô, ĐBSCL sẽ trở lại bình thường, vẫn tiếp tục là vựa lúa của cả nước. Hình như tiếng khóc của người nông dân ĐBSCL đang dở sống dở chết về tình trạng ngập mặn chưa từng có, về sự biến đổi môi trường sinh thái không đến tai các chuyên gia hoạch định chiến lược lương thực!

Còn một mối lo khác là kho dự trữ quốc gia (KDTQG). Hiện nay không có con số chính thức lương thực trong KDTQG là bao nhiêu. Năm 2019, Tổng Cục Dự Trữ Nhà Nước cho biết đã thu mua 80.000 tấn thóc và 200.000 tấn gạo. Năm 2020 thu mua 190.000 tấn gạo và 80.000 tấn thóc. Đó là số vào kho của 2 năm 2019 và 2020, còn số ra bao nhiêu thì không rõ. Có người ước lượng hiện nay KDTQG có từ 700.000 đến 800.000 tấn.

Với mức dự trữ này, một nước có gần 100 triệu dân như Việt Nam dùng được tối đa là 45 ngày!

Trong trường hợp xấu là đại dịch kéo dài cả năm hay hơn, số gạo thặng dư đã xuất khẩu hết, mùa màng bị đình trệ, kho dự trữ quốc gia lo cho dân được 45 ngày, sau đó thì sao?

Đây là câu hỏi mà tôi nghĩ những kẻ lãnh đạo Việt Nam hiện nay không chắc có câu trả lời.

Gạo, đúng là nỗi lo của người Việt Nam!

Nguyễn Ngọc Đức

 

Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print

BÀI MỚI

Ông Tô Lâm tham dự và phát biểu tại phiên họp chính phủ thường kỳ tháng 6/2026 hôm 4/7/2026. Ảnh: VGP

Cần bao nhiêu Chỉ thị 07 mới dẹp được “kiêu binh”?

Khi việc bảo vệ một biểu tượng được đồng nhất với việc triệt tiêu mọi cách diễn giải khác, khi phản biện dễ bị quy thành chống đối, còn lòng trung thành được đo bằng mức độ quyết liệt trong việc lên án người khác, thì “kiêu binh” sẽ còn tự tái sinh dưới những hình thức mới.

Cuốn sách "Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng” từng được ra mắt tại trụ sở Nhà xuất bản Hội Nhà văn Việt Nam. Ảnh: NXB Hội Nhà văn Việt Nam

Cần “lật sử” (!) và “xuyên tạc lịch sử,” “xúc phạm lãnh tụ” ư?

Hiểu quá khứ để rút ra những bài học cho hiện tại và tương lai là vô cùng quan trọng đối với sự phát triển của đất nước và của mỗi người chúng ta. Chính vì thế việc viết lại các chuyện kể lịch sử và việc đánh giá lại các nhân vật lịch sử là chuyện thường xuyên phải làm của các nhà sử học, cũng như là quyền của mỗi người quan tâm đến lịch sử, và không thể vin vào “sự xuyên tạc lịch sử,” hay “sự xúc phạm lãnh tụ” để “đấu tố” hay  “lên án” họ nhất là để truy tố họ.

Khi “bốn bước chuyển chiến lược” gặp cơn sóng thần đấu tố trên toàn quốc

Điều đang diễn ra tại Việt Nam là một dạng “Cách mạng Văn hóa kỹ thuật số,” Hồng vệ binh không còn đeo băng đỏ mà ẩn sau tài khoản mạng; loa phường không chỉ treo trên cột điện mà nằm trong điện thoại của mỗi người; bản án dư luận được ban hành trước khi tranh luận học thuật kịp bắt đầu. Khi cả xã hội được huy động để săn lùng một câu chữ, một cuốn sách hoặc một cách gọi nhân vật lịch sử, mục tiêu thực sự không còn là bảo vệ sự thật. Đó là việc buộc mọi người phải nhìn quá khứ bằng một đôi mắt duy nhất.

Sách "Chuyện với Thanh" và tác giả Nguyễn Thành Nam

Bộ máy tuyên truyền CSVN đã thất bại ra sao trong vụ xử lý “Chuyện với Thanh”?

Khi một hệ thống dùng quyền lực để thay thế đối thoại, dùng khẩu hiệu để thay thế sự minh bạch, dùng văn kiện để thay thế trách nhiệm, thì đó không phải là biểu hiện của sức mạnh mà là dấu hiệu của sự lúng túng. Câu chuyện lớn hơn sau vụ việc này không phải là một cuốn sách mà là câu hỏi về khả năng thích ứng của một hệ thống chính trị trước một xã hội đang thay đổi.