Merck xin FDA cấp phép sử dụng khẩn cấp thuốc viên trị COVID-19

Công ty dược phẩm Merck hôm 11/10/2021 nộp đơn xin cơ quan thanh tra thực phẩm và dược phẩm Mỹ (FDA) cấp phép sử dụng khẩn cấp thuốc viên molnupiravir trị COVID-19. Ảnh: CNN
Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print
Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print

WASHINGTON, DC (NV) – Công ty dược phẩm Merck hôm Thứ Hai, 11 Tháng Mười, nộp đơn xin cơ quan thanh tra thực phẩm và dược phẩm Mỹ (FDA) cấp phép sử dụng khẩn cấp thuốc viên trị COVID-19, đưa ra thêm một cách đối phó giản dị và hoàn toàn mới trong cuộc chiến với đại dịch toàn thế giới.

Nếu thuốc được FDA chuẩn thuận, có thể là trong ít tuần nữa, đây sẽ viên thuốc đầu tiên trị được COVID-19. Tất cả các loại thuốc khác được FDA chấp thuận cho đến nay đều phải qua truyền dung dịch hoặc phải chích vào người, theo bản tin của hãng thông tấn AP.

Nếu có được viên thuốc để dân chúng có thể mua và mang về nhà dùng, nhằm giảm bớt việc bị virus “hành hạ” và tăng nhanh thời gian phục hồi, có thể giúp giảm bớt số người phải nằm bệnh viện và giúp giảm bớt các ổ dịch tại các nước nghèo, không có hệ thống y tế cộng đồng hữu hiệu. Thuốc viên này cũng gia tăng hữu hiệu cho nỗ lực hai gọng kềm để chặn đại dịch, đó là ngăn chặn qua chích ngừa và điều trị qua uống thuốc.

FDA sẽ xem xét các dữ liệu mà Merck cung cấp để xem xét về mức độ hiệu quả và an toàn của thuốc này, có tên molnupiravir, trước khi có quyết định.

 

Merck và công ty đối tác Ridgeback Biotherapeutic nói họ đặc biệt yêu cầu FDA cho phép sử dụng trong trường hợp khẩn cấp cho người lớn với tình trạng nhiễm COVID-19 từ nhẹ tới trung bình, nhưng có nguy cơ trở nặng hoặc phải vào bệnh viện.

Bác Sĩ Nicholas Kartsonis, một phó tổng giám đốc về bệnh truyền nhiễm của Merck, nói rằng lợi thế của thuốc molnupiravir là bệnh nhân không phải đến các trung tâm truyền thuốc cùng các khó khăn quanh việc này.

Công ty Merck hồi đầu tháng này nói rằng viên thuốc của họ giảm số trường hợp phải vào bệnh viện cũng như mức tử vong còn một nửa, khi cho bệnh nhân mới nhiễm COVID-19 uống thuốc.

V. Giang

Nguồn: Người Việt

 

Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print

BÀI MỚI

Bệnh nhân chờ khám chữa bệnh tại Bệnh viện K, cơ sở Tân Triều, huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội. Ảnh: Phụ nữ Online

Sóng gió nhà thương*

Ai từng có người thân đau ốm, nhất là mang căn bệnh ung thư, mới hiểu hết cảm giác kiệt quệ nơi “sóng gió nhà thương.” Người bệnh đã mang trong mình nỗi đau thể xác, nỗi sợ hãi cận kề giữa sự sống và cái chết, điều họ cần đôi khi không phải lời hứa hẹn cao siêu, mà chỉ là một ánh mắt quan tâm, một câu hỏi han tử tế từ bác sĩ điều trị…

Phối cảnh dự án trục đại lộ cảnh quan sông Hồng đoạn qua khu vực nội đô. Nguồn: UBND TP Hà Nội, via VnExpress

Sân Golf và nghịch lý quyền lực trong thể chế đảng–Nhà nước

Việt Nam có khoảng 80 đến 100 sân golf với khoảng 100.000 đến 120.000 người chơi — tức là chưa đầy 0,2% dân số. Con số này tự nó đã là một tuyên ngôn chính trị: Hàng chục ngàn hecta bị chiếm dụng để phục vụ một tầng lớp cực nhỏ, trong khi hàng trăm nghìn nông dân mất đất mưu sinh. Đây không phải là thất bại chính sách ngẫu nhiên — đây là kết quả có hệ thống của cách thể chế đảng–nhà nước vận hành.

Kế hoạch dự phòng của châu Âu để thay thế NATO

Kế hoạch B vì thế đòi hỏi nhiều hơn là chỉ dự trữ thêm vũ khí — mà là xây dựng một cấu trúc để châu Âu có thể theo đó mà chiến đấu. Nền tảng của cấu trúc đó, ít nhất là đối với các nước Bắc Âu, có lẽ sẽ là một liên minh nòng cốt gồm các nước vùng Baltic, các nước Bắc Âu và Ba Lan. Các nước này đều chia sẻ những giá trị chung và một nỗi lo sợ chung trước Nga.

Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình (phải) và Tổng bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm trong chuyến thăm cấp nhà nước của ông này tại Trung Quốc từ 14 - 17/4/2026. Ảnh: VTC News

Tô Lâm dựa vào Tàu để củng cố quyền lực

Tô Lâm muốn dùng ba trụ cột để tạo một “kỷ nguyên vươn mình” theo kiểu mệnh lệnh: Công an để giữ trật tự, vốn và kỹ thuật Trung Quốc để dựng hạ tầng, và lao động Việt Nam để biến đất nước thành công xưởng mới trong chuỗi cung ứng khu vực.

Vấn đề là một quốc gia có thể tăng trưởng nhờ mô hình ấy, nhưng liệu có thể trở thành một nước mạnh, tự do, sáng tạo và độc lập nhờ mô hình ấy hay không?

Câu trả lời có lẽ không mấy sáng sủa.