Giữ hay bỏ – Câu chuyện Đài Loan

Tổng thống Đài Loan Lại Thanh Đức (Lai Ching-te) (giữa) thăm một căn cứ quân sự ở Đào Viên, Đài Loan. Ảnh: EFE/ EPA/ Ritchie B. Tongo
Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print
Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print

Nguyễn Công Bằng

Đài Loan – giữ hay bỏ?

Việc Tổng thống Mỹ Donald Trump quay trở lại Nhà Trắng hồi tháng 1 đã làm dấy lên nhiều câu hỏi về mức độ cam kết của Mỹ đối với Đài Loan, trong trường hợp Trung Quốc quyết định sử dụng vũ lực nhằm kiểm soát hòn đảo này. Trong khi đó, các cố vấn thân cận của Donald Trump vẫn khẳng định Washington không có ý định rút lại cam kết nếu xảy ra xung đột.

Sự lo ngại này xuất phát từ việc tổng thống thứ 47 của Mỹ nhiều lần đưa ra các tuyên bố thiếu nhất quán – hôm nay nói một điều, hôm sau lại phủ nhận hoặc diễn giải khác. Bắc Kinh đã tận dụng đặc điểm này để gieo hoài nghi trong hàng ngũ các đồng minh của Mỹ, nhất là tại Đông Á – nơi giới quan sát cho rằng sự khó đoán định của Trump khiến khu vực không thể nắm rõ lập trường của Washington trước sự trỗi dậy của Trung Quốc.

Trọng tâm của nỗi lo là tương lai của Đài Loan – vị trí được xem là mắt xích chiến lược nhờ nằm giữa chuỗi đảo thứ nhất trên Thái Bình Dương, đóng vai trò “cửa ngõ” tiếp cận không gian an ninh của Mỹ tại khu vực. Nếu Trung Quốc giành quyền kiểm soát Đài Loan, cán cân chiến lược ở Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương sẽ thay đổi đáng kể theo hướng có lợi cho Bắc Kinh.

Điều này không chỉ được nhận thức rõ tại Washington, mà còn tại Tokyo, Seoul và Manila – 3 quốc gia chịu ảnh hưởng trực tiếp nếu hiện trạng tại Đài Loan bị thay đổi. Việc Trung Quốc kiểm soát hoàn toàn hòn đảo này không chỉ tạo lợi thế địa chiến lược, mà còn cho phép Bắc Kinh mở rộng năng lực triển khai quân sự sâu rộng hơn ra Thái Bình Dương, gây sức ép đáng kể lên mạng lưới đồng minh của Mỹ.

Trước nguy cơ ngày càng rõ ràng, các quốc gia trong khu vực đã điều chỉnh chiến lược quốc phòng: Nhật Bản triển khai chương trình tái vũ trang lớn nhất kể từ năm 1945; Hàn Quốc thảo luận khả năng phát triển vũ khí hạt nhân; Philippines khôi phục vai trò tiền đồn chiến lược của Mỹ; trong khi đó, Australia cũng tăng tốc hiện đại hóa quốc phòng.

Đài Loan – Vai trò quan trọng

Với Washington, Đài Loan không chỉ là một điểm nóng chiến lược, mà còn là chìa khóa bảo đảm sự hiện diện lâu dài của Mỹ tại châu Á. Giới phân tích cho rằng nếu Mỹ bỏ rơi Đài Loan, hậu quả sẽ rất nghiêm trọng, thậm chí có thể không thể đảo ngược: Niềm tin của các đồng minh trong khu vực sẽ suy giảm mạnh và họ có thể buộc phải chuyển hướng sang tăng cường tự phòng vệ hoặc tìm cách hòa dịu với Bắc Kinh.

Trái với lập trường rõ ràng của người tiền nhiệm Joe Biden – người từng 4 lần tuyên bố Mỹ sẽ bảo vệ Đài Loan nếu Trung Quốc dùng vũ lực – Tổng thống Donald Trump vẫn giữ thái độ mập mờ, né tránh việc nói rõ chiến lược can dự của Mỹ trong trường hợp xảy ra xung đột.

Sau cuộc gặp với Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình bên lề Hội nghị cấp cao APEC tại Hàn Quốc ngày 30/10, Trump cho biết vấn đề Đài Loan “không được nêu ra” trong thảo luận song phương. Tuy nhiên, trong cuộc phỏng vấn với CBS ngày 2/11, ông lại khẳng định Chủ tịch Tập Cận Bình “hiểu rất rõ hậu quả” nếu Trung Quốc phát động tấn công. Khi được hỏi liệu Mỹ có can thiệp quân sự hay không, Trump trả lời: “Mọi người sẽ biết khi điều đó xảy ra và ông ấy hiểu rõ điều đó.”

Trong chương trình truyền hình “60 phút” (Mỹ), ông nói thêm rằng không thể “tiết lộ bí mật,” song khẳng định “phía bên kia đã nắm rõ.” Trump cũng nhắc lại phát biểu từng nhiều lần nêu trước đây rằng giới lãnh đạo Trung Quốc không hành động khi ông còn tại vị vì “họ hiểu rõ hậu quả.”

Chuyên gia Nathan Attrill thuộc Viện Chính sách Chiến lược Australia (ASPI) cũng chung nhận định. Ông cho rằng Đài Loan đang phải xử lý quan hệ với “một đối tác an ninh quen thuộc nhưng kém ổn định hơn trước.” Attrill viết: “Dưới thời Trump, vấn đề không nằm ở khả năng quân sự của Mỹ mà là ý chí hành động và đó là điều khiến cam kết của Washington trở nên khó đoán.”

Trong bài phân tích công bố ngày 31/10, Attrill nêu rõ sự khác biệt giữa độ tin cậy và hiệu lực răn đe: “Độ tin cậy phản ánh năng lực duy trì cam kết của một đồng minh. Hiệu lực răn đe lại phụ thuộc vào ý chí dùng năng lực đó khi cần thiết.” Ông kết luận: “Trong lý thuyết răn đe, hiệu lực răn đe là yếu tố gia tăng sức mạnh quân sự, biến năng lực thành quyết tâm. Nếu thiếu điều này, ngay cả một siêu cường cũng sẽ tạo ra cái bóng nhỏ hơn nhiều so với sức mạnh thực tế của mình.”

Trước thực tế này, nhiều chuyên gia Đông Á đặt ra những câu hỏi lớn: Liệu Mỹ – dưới một chính quyền ưu tiên giao dịch hơn niềm tin chiến lược – còn có thể được xem là một đồng minh đáng tin cậy? Mặc dù sức mạnh quân sự của Mỹ vẫn vượt trội, nhưng nó có được sử dụng khi cần hay không?

Trong khi đó, có một số ý kiến khác lạc quan hơn. Matt Pottinger – Chủ tịch chương trình Trung Quốc tại Quỹ bảo vệ các nền dân chủ (Mỹ) – trả lời kênh truyền hình tin tức CNN của Mỹ rằng: “Ý tưởng cho rằng Trump sẽ ‘bán Đài Loan’ chủ yếu xuất phát từ chiến dịch thử phản ứng của Trung Quốc trên truyền thông Mỹ và đến từ các nhóm theo chủ nghĩa biệt lập thuộc cả 2 phe chính trị – từ cực tả lẫn cực hữu – những người cho rằng Mỹ không nên can dự vào các cuộc xung đột bên ngoài.” Từng là phó cố vấn an ninh quốc gia và được biết đến với lập trường cứng rắn với Bắc Kinh, Pottinger khẳng định: “Trump hiểu rõ giá trị chiến lược của Đài Loan.”

Tuy vậy, giới phân tích cũng lưu ý rằng đội ngũ hiện nay của Trump gồm nhiều nhân vật theo trường phái biệt lập và cánh hữu cứng rắn hơn so với các nhóm hoạch định chính sách truyền thống trước đây – yếu tố khiến dư luận Đài Loan càng thêm lo lắng. Henrietta Levin, chuyên gia tại Trung tâm Nghiên cứu Chiến lược và Quốc tế (CSIS), nhận xét: “Một số nhà hoạch định chính sách tại Đài Bắc thực sự cảm thấy bất an khi đột nhiên không còn chắc chắn liệu tổng thống Mỹ có đứng về phía họ hay không.”

Đang có những thay đổi

Tuy nhiên, bước sang nhiệm kỳ hai, lập trường của Trump có dấu hiệu thay đổi. Nhiều lần, ông công khai cáo buộc Đài Loan “chiếm đoạt” thị trường bán dẫn của Mỹ – phát biểu gây nhiều quan ngại tại Đài Bắc. Sự thay đổi này thể hiện rõ hơn trong lĩnh vực quốc phòng. Từ đầu năm 2025, Chính quyền Mỹ đã từ chối phê duyệt việc chuyển giao vũ khí từ kho dự trữ sang Đài Loan. Tính đến nay, Đài Bắc vẫn đang chờ hơn 20 tỷ USD thiết bị quốc phòng đặt mua từ Mỹ, phần lớn bị chậm do năng lực sản xuất của Washington chịu ảnh hưởng từ cuộc chiến tại Ukraine.

Theo các nguồn tin được truyền thông Mỹ trích dẫn, Nhà Trắng đang xem xét một chiến lược mới đối với Đài Loan, tập trung biến hòn đảo thành một dạng “pháo đài nhím” – tức ưu tiên vũ khí chính xác, nhỏ gọn, cơ động, phù hợp tác chiến phi đối xứng nhằm khiến bất kỳ kế hoạch tấn công nào của Bắc Kinh trở nên tốn kém và rủi ro.

Tạp chí Foreign Affairs nhận định: “Nếu dựa trên cách tiếp cận mới này, xung đột quanh Đài Loan có thể trở thành cuộc đấu ý chí và đó là cuộc chơi Bắc Kinh tin rằng họ có thể thắng.” Trong khi Trung Quốc nhiều lần khẳng định Đài Loan là “lợi ích cốt lõi trong số các lợi ích cốt lõi,” Tổng thống Trump lại đề cập đến vấn đề này bằng giọng điệu thận trọng hơn: “Đài Loan cách chúng ta 9.500 dặm… nhưng chỉ cách Trung Quốc 110 km. Chúng ta phải tính toán khôn ngoan. Đây là câu chuyện rất khó.”

Tạp chí Foreign Affairs còn cho biết thêm: “Nếu muốn duy trì khả năng răn đe, Mỹ phải chứng minh với Bắc Kinh rằng chiến lược của Washington không chỉ áp dụng cho giai đoạn đầu xung đột, mà cho cả giai đoạn cuối – tức là tổng thể một cuộc chiến.”

Ở góc nhìn rộng hơn, nhiều chuyên gia cho rằng Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình hiểu Donald Trump khá rõ sau hơn một thập kỷ tiếp xúc. Với tính cách khó đoán của tổng thống Mỹ, giới phân tích cho rằng Bắc Kinh có thể chọn chờ đợi thay vì hành động vội vàng, bởi thời gian, trong cách nhìn của Trung Quốc, đang nghiêng về phía họ.

 

Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print

BÀI MỚI

Biểu tình chống Dự luật Đặc khu tại Sài Gòn hôm 10/6/2018. Ảnh: VNTB

Biểu tình: Một quyền chính trị quan trọng bị cấm kỵ

Xuyên suốt lịch sử lập hiến của Việt Nam, quyền hội họp và biểu tình luôn được ghi nhận trong các bản Hiến pháp năm 1959 tại Điều 25, Hiến pháp 1980 tại Điều 67, và Hiến pháp 1992 tại Điều 69. Tuy nhiên,  thực tế lịch sử lại không như vậy.

Cho đến nay, Điều 25 của Hiến pháp 2013 vẫn khẳng định công dân có quyền tự do ngôn luận, báo chí, hội họp và biểu tình. Thế nhưng, quyền biểu tình và hội họp vẫn bị treo vô thời hạn!

Ảnh minh họa: Internet

Phát triển và thu hút nhân tài từ nhỏ – trong nước nói, nước ngoài làm

Trong khi Việt Nam vẫn đang hô hào “trọng dụng nhân tài” ở mọi cấp độ, các quốc gia khác đã âm thầm thu hút nguồn lực xuất sắc của chúng ta từ lúc các em còn ngồi trên ghế lớp 8, lớp 9.

Không phải ngẫu nhiên mà Singapore triển khai hai chương trình học bổng lớn – ASEAN Scholarship và A*STAR Scholarship – nhắm trực tiếp vào học sinh Việt Nam từ độ tuổi 14–16.

Ông Tô Lâm phát biểu tại Diễn đàn Đối thoại Shangri-La, Singapore hôm thứ Sáu 29/5/2026. Ảnh: Reuters

Tô Lâm: Ngoại giao một đằng, nội trị một nẻo?

Đó là nghịch lý lớn nhất của đời sống chính trị Việt Nam hiện nay. Đối ngoại thì nói ngôn ngữ của đối thoại, nhưng đối nội lại vận hành bằng ngôn ngữ của kiểm soát. Đối ngoại thì kêu gọi tôn trọng khác biệt, nhưng đối nội lại rất ít chỗ cho những tiếng nói khác biệt. Đối ngoại thì nói về hòa bình, nhưng đối nội lại duy trì một không khí khiến nhiều người e ngại khi bày tỏ quan điểm của mình về những vấn đề hệ trọng của đất nước.

Ảnh minh họa: Mạc Đĩnh Chi đi sứ sang Tàu

Mạc Đĩnh Chi – Nhà ngoại giao hay thi sĩ

Khi sứ đoàn Đại Việt chuẩn bị hồi hương, triều đình nhà Nguyên báo tin một công chúa được vua hết mực yêu thương vừa qua đời. Mạc Đĩnh Chi lại được triệu vào để đọc điếu văn cho công chúa. Theo lời truyền đạt, Mạc Đĩnh Chi sẽ được giao cho một bài điếu văn đã được viết sẵn. Tuy nhiên, khi mở trang giấy, trước mắt ông chỉ có duy nhất một chữ: “Nhất”!

Chỉ sau một thoáng lặng im, Trạng nguyên Mạc Đĩnh Chi đã xuất thần đọc một bài điếu…