Bao giờ thì có nguyên thủ quốc gia đúng nghĩa?

Tứ trụ khóa 13. Ảnh: Internet
Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print
Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print

1. Thể chế chính trị Việt Nam hiện nay chia quyền lực cho 4 trụ cột: Tổng bí thư (TBT), Chủ tịch nước (CTN), Thủ tướng (TT), Chủ tịch Quốc hội (CTQH), nên không có một ai trong số đó đảm nhận vai trò nguyên thủ quốc gia đúng nghĩa.

TBT là người có quyền lực cao nhất trong đảng, nhưng không phải là đại diện cho quốc gia, mà chỉ đại diện cho đảng phái. Vì thế khi đi thăm các quốc gia khác, nhiều nước không tiếp đón theo nghi lễ nguyên thủ quốc gia. Thậm chí, muốn đi thăm cũng không có lý do để nguyên thủ các quốc gia khác cất lời mời. Khi đi thăm, vấn đề rải thảm đỏ, bắn đại bác chào mừng, tổ chức quốc yến… theo nghi lễ nguyên thủ đòi hỏi những đàm phán vất vả của ngoại giao. TBT cũng không điều hành bộ máy của quốc gia, không điều hành nền kinh tế của đất nước. TBT không phải là nguyên thủ quốc gia.

CTN theo danh nghĩa là nguyên thủ quốc gia. Nhưng CTN không có quyền quyết định nhân sự như TBT. CTN cũng không điều hành đất nước như TT. Trên thực tế CTN ít quyền hơn TBT, ít quyền hơn TT.

TT điều hành trực tiếp chính phủ. Nhưng nhân sự chính phủ cũng không do TT quyết định mà do BCH TƯ đtảng và Bộ Chính trị quyết định. TT cũng không thực quyền điều hành chính phủ. Đi thăm các quốc gia khác, TT cũng không phải là nguyên thủ quốc gia.

CTQH điều hành Quốc hội (QH) nhưng mọi quyết định quan trọng của QH đều do đảng quyết định trước, sau đó mới đưa cho QH thông qua để hợp lệ về thủ tục. CTQH ít quyền hơn TBT, ít quyền hơn TT.

Thực chất, Việt Nam hiện nay không có nguyên thủ quốc gia đúng nghĩa.

2. Đại sa số các nước chọn ra nguyên thủ quốc gia hoặc qua thể thức bầu cử trực tiếp, hoặc qua thể thức bầu ra nghị viện, rồi nghị viện bầu ra nguyên thủ quốc gia.

Thể thức bầu cử trực tiếp là thể thức tốt nhất chọn nguyên thủ quốc gia. Bởi vì đây là thể thức đối đầu trực tiếp, mang tính được mất, sống còn. Nên nguyên thủ quốc gia chọn ra từ thể thức bầu cử trực tiếp thường là những thân hình chính trị mạnh mẽ, thông tuệ.

Thể thức bầu nguyên thủ quốc gia thông qua nghị viện có lúc mang tính thoả hiệp, nên nguyên thủ quốc gia chọn qua thể thức này ít quyết liệt, không phải ai cũng có tính cách thủ lĩnh.

Nhưng dẫu bằng thể thức nào thì nhờ tính dân chủ và minh bạch, sòng phẳng và thực chất chứ không giả hiệu trong bầu cử, các nguyên thủ quốc gia đều sắc sảo và mạnh mẽ, tuy mức độ có khác nhau.

Vị trí CTN của Việt Nam được đảng quyết định nhân sự trước, nhưng không phải bỏ phiếu trong toàn đảng, cũng không phải bầu cử trực tiếp ở Ban chấp hành Trung ương đảng, mà bằng sự thảo luận và quyết định của các uỷ viên Bộ chính trị. Sau đó ứng viên CTN được đưa ra để QH thông qua.

CTN của Việt Nam không được chọn theo các thể thức như đa số các nước trên địa cầu.

3. Nguyên thủ quốc gia là vị trí quan trọng nhất trong bộ máy nhà nước. Nguyên thủ quốc gia là thân hình chính trị lớn nhất của một nước. Nguyên thủ quốc gia là bộ mặt của nhà nước. Nhìn vào nguyên thủ quốc gia biết trạng thái đất nước.

Một nguyên thủ quốc gia yếu không thể đại diện cho một quốc gia mạnh.

Một quốc gia mạnh không thể có một nguyên thủ quốc gia yếu.

Nhìn vào nguyên thủ quốc gia, có thể tự hào.

Nhìn vào nguyên thủ quốc gia có thể xấu hổ.

Nhìn vào nguyên thủ quốc gia, có thể vui mừng.

Nhìn vào nguyên thủ quốc gia có thể lo lắng.

Nhìn vào nguyên thủ quốc gia, có thể hy vọng.

Nhìn vào nguyên thủ quốc gia có thể bi quan.

Đất nước cần một nguyên thủ quốc gia mạnh mẽ, thông tuệ, thực quyền để thực sự có ích cho đất nước. Một ước mơ mà ở các nước được hiện thực sau mỗi nhiệm kỳ 4-5 năm. Nhưng ở Việt Nam thì đến bao giờ?

Đã nhiều thập niên Việt Nam chưa có một CTN để lại ấn tượng. Rất cần phải cải cách thể thức lựa chọn nguyên thủ quốc gia.

TS Nguyễn Ngọc Chu

Nguồn: FB Nguyen Ngoc Chu

 

Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print

BÀI MỚI

Sách "Chuyện với Thanh" và tác giả Nguyễn Thành Nam

Xã hội sẽ “tử tế” kiểu gì khi “hoàn lưu” những cuộc đấu tố trở lại?

Gieo nỗi sợ, người ta sẽ gặt được sự giả dối. Gieo đấu tố, người ta sẽ gặt sự phản trắc. Gieo thói quen kết tội người khác để bảo vệ mình, người ta sẽ tạo ra một xã hội trong đó không ai thực sự bảo vệ ai. Đến một ngày nào đó, khi chính quyền cần sự dấn thân, lòng can đảm và tinh thần trách nhiệm của công dân, điều họ nhận lại có thể chỉ là những khuôn mặt im lặng, những lời nói theo mẫu và một xã hội đã rút hết sinh khí vào bên trong.

Cuốn sách "Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng" bị thu hồi và tiêu hủy. Ảnh: Nhà xuất bản Hội Nhà Vă

Vụ Nguyễn Thành Nam và màn kịch bệnh hoạn của cả một xã hội

Càng theo dõi diễn biến của vụ việc Nguyễn Thành Nam, người ta càng nhận ra đây không phải là một vụ án “thông thường.” Điều khiến nó trở nên đặc biệt không nằm ở điều luật được áp dụng, mà nằm ở chính con người bị áp dụng điều luật ấy.

Bởi lần đầu tiên trong nhiều thập niên, một người từng công khai giảng dạy môn Tư tưởng Hồ Chí Minh, viết sách với mong muốn làm cho người trẻ hiểu và yêu Hồ Chí Minh hơn, lại bị cáo buộc là người “tuyên truyền chống Nhà nước.”

Ông Tô Lâm phát biểu tại Hội nghị Sơ kết 1 năm vận hành cơ chế mới tổ chức vào ngày 1 tháng 7, 2026. Ảnh chụp từ trang mạng Thể Thao & Văn Hóa

Điểm nghẽn của chế độ Tô Lâm

Điểm nghẽn lớn nhất của Việt Nam hôm nay không còn chỉ là thể chế hay năng lực thực thi. Điểm nghẽn sâu xa hơn là mục tiêu phát triển.

Một quốc gia sẽ đi theo đúng mục tiêu mà nó lựa chọn. Nếu mục tiêu cao nhất là duy trì quyền lực, thì mọi chính sách cuối cùng sẽ phục vụ cho việc bảo vệ quyền lực. Nhưng nếu mục tiêu cao nhất là con người và dân tộc Việt Nam, thì toàn bộ hệ thống chính trị, giáo dục, kinh tế và văn hóa sẽ phải được tổ chức lại để khai mở tiềm năng của con người.

Thủ đô Seoul của Hàn Quốc. Quốc gia này là một trong số những ví dụ thành công về việc thoát khỏi “bẫy thu nhập trung bình.” Ảnh: Gije Cho - Pexels

Bẫy thu nhập trung bình

Cái bẫy này người ta gọi là Bẫy thu nhập trung bình, thuật ngữ do hai nhà kinh tế Indermit Gill và Homi Kharas đặt ra năm 2007, khi họ đang nghiên cứu chiến lược phát triển cho các nước Đông Á.

Ý tưởng cốt lõi thì đơn giản thôi: Một quốc gia nghèo có thể tăng trưởng khá nhanh nhờ mấy lợi thế có sẵn, tài nguyên, nhân công rẻ, hay viện trợ nước ngoài. Nhưng đến một ngưỡng nào đó, mọi thứ chững lại. Lương tăng lên rồi, thế là mất luôn lợi thế “rẻ.”