Bầu cử chỉ là hợp thức hóa vai trò giới chủ của dân

Một địa điểm bầu cử ở Sài Gòn, sáng 15/3/2026, Ảnh: Báo Tuổi Trẻ
Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print
Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print

Trân Văn

Hôm 15 Tháng Ba, 2026, dân chúng Việt Nam phải đi bầu đại biểu Quốc Hội (ĐBQH) và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) nơi họ cư ngụ.

Về lý thuyết ĐBQH và đại biểu HĐND là những cá nhân được dân chúng lựa chọn để đại diện cho ý chí và nguyện vọng của họ trong việc quản trị quốc gia và địa phương nơi họ sinh sống.

Những cá nhân được dân chúng chọn làm người đại diện cho họ phải bám sát ý chí và nguyện vọng của cử tri trong việc soạn thảo, bỏ phiếu thông qua các quy phạm pháp luật, đưa ra những quyết định quan trọng trong việc định hình chính sách (chẳng hạn sử dụng công quỹ thế nào, chi bao nhiêu, cho chuyện gì,…), giám sát hoạt động của hệ thống công quyền và báo cáo cặn kẽ với cử tri, nghe thêm ý kiến của cử tri để bảo đảm hoàn thành nghĩa vụ của một dân cử, nếu không, họ sẽ bị cử tri bãi nhiệm ngay trong nhiệm kỳ đó hoặc loại bỏ ở nhiệm kỳ sau.

Để dễ hình dung, có thể xem các ĐBQH và đại biểu HĐND là một bên trong hợp đồng với xã hội và phải chu toàn những nghĩa vụ như vừa đề cập. Tuy nhiên dựa trên các quy định và thực tế hoạt động của các ĐBQH và đại biểu HĐND cũng như các cơ quan dân cử tại Việt Nam, có thể thấy, bầu cử chỉ là hoạt động nhằm hợp thức vai trò giới chủ của dân.

Cứ vào Internet, xem những hướng dẫn, nhắc nhở của hệ thống công quyền và hệ thống truyền thông chính thức về cuộc bầu cử vừa diễn ra, tự nhiên sẽ tìm được đầy đủ bằng chứng. Cụ thể: Việt Nam xác định bầu cử là nghĩa vụ. Cử tri bị buộc phải chọn ứng cử viên (ƯCV) trong “danh sách chính thức,” không được bỏ phiếu trắng, không được loại tất cả ƯCV đã được chọn trước, không được tự giới thiệu người họ muốn.

***

Giống như các quốc gia khác, Hiến Pháp Việt Nam xác định, công dân tự do lựa chọn người đại diện họ. Đó cũng là lý do công dân các xứ khác tự do trong việc bỏ phiếu trắng (không chọn ai), gạch bỏ hết những ứng cử viên có tên trên phiếu bầu hoặc viết thêm tên người mà họ thích và muốn người đó đại diện cho họ (write-in). Việc buộc cử tri phải chọn ƯCV đã được chọn trước chính là hạn chế quyền tự do lựa chọn người mà cử tri thật sự tin cậy. Làm sao “quyền lực thuộc về nhân dân” trở thành hiện thực như hiến định khi nhân dân phải lựa chọn trong khuôn khổ đã được giới cầm quyền định sẵn? Khi dân chúng không thể tự do bày tỏ suy nghĩ của họ về các ƯCV qua lá phiếu của họ thì lấy gì để tin tỷ lệ tín nhiệm là khả tín?

Không cần phải nhìn sang Âu Mỹ, cứ hỏi những người gốc Việt đang  sống ở các quốc gia thuộc khu vực Đông Nam Á như Thái Lan, Philippines, Indonesia,… là có thể thấy sự khác biệt giữa chọn đại diện để thực thi dân chủ và hợp thức hóa vai trò giới chủ của dân. Ở Thái Lan, các phiếu bầu luôn có ô “No Vote” (không chọn ai). Nếu tỷ lệ “No Vote” ở khu vực bầu cử nào đó cao hơn tỷ lệ ƯCV dẫn đầu đạt được thì phải tổ chức bầu cử lại, các ƯCV có thể bị cấm tái tranh cử và điều này được xem như một kiểu loại bỏ ƯCV mà cử tri xem là bất xứng. Ở Philippines và Indonesia, tỷ lệ phiếu trắng và phiếu gạch chéo (loại bỏ toàn bộ ứng cử viên) được xem là yếu tố quyết định thành bại của cuộc bầu cử bởi đó chính là nhận định của cử tri về chất lượng ƯCV.

Ở khu vực Đông Á, cử tri Nhật có quyền viết thêm tên ƯCV lên phiếu bầu. Cử tri Nam Hàn, Đài Loan thì có thể chọn vô số ƯCV tự ứng cử chứ không phải ƯCV đã qua… “hiệp thương” (độc quyền đề cử). Nhờ cái gọi là “hiệp thương,” ƯCV này không cần thuyết phục cử tri rằng họ xứng đáng hơn ƯCV khác, các ƯCV cũng không cần cạnh tranh, thậm chí không thèm bận tâm đến chuyện cử tri nghĩ về họ như thế nào. Xét về bản chất, “hiệp thương” là ép chọn, thủ tiêu cả tự do lựa chọn lẫn tự do ứng cử. Gọi đó là dân chủ có khác gì nói lấy được?

***

Do tôn trọng “tự do lựa chọn,” rất nhiều quốc gia không ép buộc công dân đi bầu, không xem bầu cử là “nghĩa vụ.” Chỉ có khoảng 20 quốc gia xác định bầu cử là nghĩa vụ. Ở châu Âu có Bỉ, Luxembourg,… Châu Mỹ có Argentina, Brazil, Châu Úc có Úc, Châu Á có Singapore,… Tại những quốc gia xem bầu cử là nghĩa vụ, không đi bầu có thể bị phạt tiền, bị gạch tên khỏi danh sách cử tri, không thể tham gia những cuộc bầu cử trong tương lai. Có một số lý do khiến những quốc gia vừa kể xác định bầu cử là nghĩa vụ: Thứ nhất là để công dân không thờ ơ với chính trị. Thứ hai là buộc chính khách phải quan tâm đến tất cả các tầng lớp trong xã hội, lơ là người nghèo, người ít học có thể thất cử.

Tuy nhiên khác với Việt Nam, tại những quốc gia ấy, song hành với nghĩa vụ là nhiều quyền liên quan đến bầu cử. Ví dụ quyền tự ứng cử được tôn trọng một cách tuyệt đối, không ai, nơi nào có quyền sàng lọc ƯCV, cũng vì vậy ƯCV hết sức đa dạng. Đồng thời quyền tự do lựa chọn của cử tri cũng được tôn trọng một cách tuyệt đối, cử tri có quyền bỏ phiếu trắng, có quyền gạch chéo, từ chối chọn tất cả ƯCV có tên trên phiếu bầu. Tại sao cử tri ở Việt Nam chỉ có “nghĩa vụ” mà không có những quyền vốn cũng đã được hiến định này?

Nếu những quốc gia theo mô hình “tổng thống chế” như Mỹ, Nam Hàn, Indonesia, Philippines,… không cho phép tổng thống, thủ tướng, các bộ trưởng kiêm nhiệm vai trò ĐBQH để bảo vệ nguyên tắc “kiểm soát và đối trọng” (checks and balances) giữa hành pháp (chính phủ) với lập pháp (quốc hội) thì những quốc gia theo mô hình đại nghị như Anh, Úc, Nhật, Thái,… chấp nhận kiêm nhiệm.

Thế nhưng khác với Việt Nam, sự hiện diện của các viên chức hành pháp trong cơ quan lập pháp ở những quốc gia vừa kể là để giải trình trực tiếp khi bị chất vấn và có thể bị bãi nhiệm ngay lập tức nếu giải trình ngớ ngẩn. Khi nào thì các thành viên trong chính phủ Việt Nam kiêm nhiệm ĐBQH sẽ xem việc bảo vệ lợi ích cử tri quan trọng hơn bảo vệ chính sách? Khi nào thì tại nghị trường, các ĐBQH bình thường bình đẳng với các cá nhân vừa là thành viên trong nội các, vừa là ĐBQH để chất vấn, truy cứu đến cùng về trách nhiệm đối với những chính sách khiến nhân tâm hoang mang, những vấn đề khiến dân chúng bất bình? Cứ bầu cử theo kiểu đã biết, đã thấy như trước nay thì ngày ấy còn thuộc tương lai xa lơ, xa lắc!

Nguồn: Người Việt

XEM THÊM:

 

 

Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print

BÀI MỚI

Sách "Chuyện với Thanh" và tác giả Nguyễn Thành Nam

Xã hội sẽ “tử tế” kiểu gì khi “hoàn lưu” những cuộc đấu tố trở lại?

Gieo nỗi sợ, người ta sẽ gặt được sự giả dối. Gieo đấu tố, người ta sẽ gặt sự phản trắc. Gieo thói quen kết tội người khác để bảo vệ mình, người ta sẽ tạo ra một xã hội trong đó không ai thực sự bảo vệ ai. Đến một ngày nào đó, khi chính quyền cần sự dấn thân, lòng can đảm và tinh thần trách nhiệm của công dân, điều họ nhận lại có thể chỉ là những khuôn mặt im lặng, những lời nói theo mẫu và một xã hội đã rút hết sinh khí vào bên trong.

Cuốn sách "Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng" bị thu hồi và tiêu hủy. Ảnh: Nhà xuất bản Hội Nhà Vă

Vụ Nguyễn Thành Nam và màn kịch bệnh hoạn của cả một xã hội

Càng theo dõi diễn biến của vụ việc Nguyễn Thành Nam, người ta càng nhận ra đây không phải là một vụ án “thông thường.” Điều khiến nó trở nên đặc biệt không nằm ở điều luật được áp dụng, mà nằm ở chính con người bị áp dụng điều luật ấy.

Bởi lần đầu tiên trong nhiều thập niên, một người từng công khai giảng dạy môn Tư tưởng Hồ Chí Minh, viết sách với mong muốn làm cho người trẻ hiểu và yêu Hồ Chí Minh hơn, lại bị cáo buộc là người “tuyên truyền chống Nhà nước.”

Ông Tô Lâm phát biểu tại Hội nghị Sơ kết 1 năm vận hành cơ chế mới tổ chức vào ngày 1 tháng 7, 2026. Ảnh chụp từ trang mạng Thể Thao & Văn Hóa

Điểm nghẽn của chế độ Tô Lâm

Điểm nghẽn lớn nhất của Việt Nam hôm nay không còn chỉ là thể chế hay năng lực thực thi. Điểm nghẽn sâu xa hơn là mục tiêu phát triển.

Một quốc gia sẽ đi theo đúng mục tiêu mà nó lựa chọn. Nếu mục tiêu cao nhất là duy trì quyền lực, thì mọi chính sách cuối cùng sẽ phục vụ cho việc bảo vệ quyền lực. Nhưng nếu mục tiêu cao nhất là con người và dân tộc Việt Nam, thì toàn bộ hệ thống chính trị, giáo dục, kinh tế và văn hóa sẽ phải được tổ chức lại để khai mở tiềm năng của con người.

Thủ đô Seoul của Hàn Quốc. Quốc gia này là một trong số những ví dụ thành công về việc thoát khỏi “bẫy thu nhập trung bình.” Ảnh: Gije Cho - Pexels

Bẫy thu nhập trung bình

Cái bẫy này người ta gọi là Bẫy thu nhập trung bình, thuật ngữ do hai nhà kinh tế Indermit Gill và Homi Kharas đặt ra năm 2007, khi họ đang nghiên cứu chiến lược phát triển cho các nước Đông Á.

Ý tưởng cốt lõi thì đơn giản thôi: Một quốc gia nghèo có thể tăng trưởng khá nhanh nhờ mấy lợi thế có sẵn, tài nguyên, nhân công rẻ, hay viện trợ nước ngoài. Nhưng đến một ngưỡng nào đó, mọi thứ chững lại. Lương tăng lên rồi, thế là mất luôn lợi thế “rẻ.”