Bảy dấu hiệu Tô Lâm đang kéo đất nước về thời bao cấp

Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print
Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print

Lý Thái Hùng

Trong gần hai năm qua, Tô Lâm liên tục nói về một “kỷ nguyên vươn mình” của Việt Nam, kèm với những mỹ từ rất hấp dẫn: Đột phá kinh tế, tăng trưởng hai con số, tinh gọn bộ máy, quản trị hiện đại, kỷ cương, hội nhập và phát triển. Nhưng nếu nhìn kỹ vào các sắp xếp nhân sự, chính sách và chủ trương gần đây, người ta thấy rằng, bên dưới lớp sơn phát triển ấy không phải là một chương trình khai phóng xã hội, mà là một tiến trình kéo Việt Nam trở lại thời bao cấp.

Nói Việt Nam đang trở lại thời bao cấp ở thế kỷ trước nghe qua có vẻ khó tin. Sau hơn 30 năm mở cửa, người dân đã quen với kinh tế thị trường, siêu thị, ngân hàng số, điện thoại thông minh, mạng xã hội, du lịch, đầu tư nước ngoài và kinh tế tư nhân. Bao cấp, trong ký ức nhiều người, là thời tem phiếu, sổ gạo, cửa hàng mậu dịch, hợp tác xã, hộ khẩu, giấy giới thiệu và những hàng người dài chờ mua từng ký gạo, từng gram thịt, từng mét vải… Nhưng nếu hiểu bao cấp chỉ là thiếu hàng hóa thì ta sẽ bỏ sót bản chất sâu hơn của nó.

Bao cấp trước hết là một triết lý cai trị: Nhà nước kiểm soát, phân phối, cấp phép, giám sát và quyết định mọi mặt xã hội. Theo nghĩa ấy, bao cấp không chết. Nó chỉ thay hình đổi dạng và nay tái xuất hiện.

Bao cấp cũ kiểm soát người dân bằng tem phiếu, hộ khẩu, lý lịch, công an khu vực và tổ dân phố. Bao cấp mới kiểm soát người dân bằng căn cước công dân gắn chip, dữ liệu dân cư, camera, tài khoản số, hóa đơn điện tử, giấy phép hành nghề, chế tài hành chính, kiểm soát mạng xã hội và các mạng lưới an ninh cắm sâu xuống tận cấp xã.

Bao cấp cũ buộc dân xếp hàng trước cửa hàng mậu dịch. Bao cấp mới buộc dân xếp hàng trước các cổng thủ tục, hệ thống dữ liệu, quy định thuế, giấy phép và những quyết định hành chính có thể thay đổi bất cứ lúc nào. Bao cấp cũ làm dân sợ thiếu gạo. Bao cấp mới làm dân sợ bị gọi tên.

Điểm nguy hiểm của mô hình này là nó không xuất hiện như một chính sách duy nhất mà nó hiện ra qua những mảnh ghép tưởng như rời rạc nhưng có liên kết như một mạng lưới. Thật vậy, nếu ta nhìn riêng từng việc, người ta dễ bị đánh lừa. Xây dựng xã, phường “xã hội chủ nghĩa kiểu mẫu” nghe như quy hoạch đô thị. Công an tham gia và bảo đảm tăng trưởng hai con số nghe như giữ gìn trật tự để phát triển. Trao quyền cho chủ tịch UBND cấp xã tước chứng chỉ hành nghề luật sư nghe như phân cấp quản lý. Lập “luật sư công” nghe như trợ giúp pháp lý cho dân nghèo. Siết mạng xã hội nghe như chống tin giả. Mở rộng camera nghe như bảo vệ an ninh.

Nhưng khi ghép tất cả lại, bức tranh hiện ra rất rõ: Xã hội đang bị đặt vào một mạng lưới kiểm soát mới, trong đó công an không chỉ là lực lượng giữ trật tự mà đang trở thành trục chính của quản trị quốc gia, theo kiểu “tín nhiệm xã hội hóa đời sống công dân” mà Bắc Kinh đang áp dụng. Nơi đó con người không còn được nhìn như một chủ thể có quyền, mà biến thành một hồ sơ hành vi, được chấm điểm hạnh kiểm, phân loại và đối xử theo nhu cầu an ninh.

Bảy dấu hiệu sau đây của thời bao cấp xưa, nếu đặt vào cùng một trục quyền lực, sẽ cho thấy một khuynh hướng rõ rệt: Phục hồi bao cấp để phục vụ công an trị trong thời đại kỹ thuật số.

Dấu hiệu thứ nhất là lệ thuộc ngoại bang. Thời bao cấp, Việt Nam lệ thuộc nặng nề vào các nước xã hội chủ nghĩa về lương thực, vũ khí, xăng dầu, thuốc men, công nghệ.

Ngày nay, nguy cơ lệ thuộc trở lại dưới hình thức lệ thuộc vào Trung Quốc về hạ tầng, thương mại, công nghệ, nguyên liệu, vốn vay, và cả phối hợp an ninh. Chỉ trong chuyến thăm Bắc Kinh tháng 4/2026 của Tô Lâm, hai bên đã ký 32 văn kiện hợp tác; Trung Quốc hỗ trợ vốn vay, chuyển giao công nghệ và đào tạo cho các dự án đường sắt, trong khi các kênh hợp tác an ninh và thực thi pháp luật cũng được mở rộng. Việt Nam đang xích lại gần hơn với mô hình kiểm soát của Bắc Kinh. Nguy cơ không còn chỉ trong lãnh vực kinh tế mà còn tiến dần tới lằn mức mượn phương tiện Tàu, nhân sự Tàu cai trị dân Việt.

Dấu hiệu thứ hai là bóp nghẹt kinh tế nội địa. Thời bao cấp, kinh tế tư nhân bị lên án, thị trường bị dẹp bỏ, sản xuất bị trói trong chỉ tiêu, và dân chúng phải xếp hàng mua từng loại nhu yếu phẩm.

Ngày nay tư duy quản lý bao cấp đang trở lại qua những lớp thủ tục, kiểm tra, thuế vụ, hóa đơn, giấy phép, chiến dịch hành chính và sự bất định chính sách. Doanh nghiệp tư nhân được gọi là động lực phát triển trong diễn văn, nhưng trên thực tế bị đối xử như đối tượng phải quản lý, truy thu, kiểm tra và răn đe. Khi người làm ăn không biết ngày mai quy định nào sẽ thay đổi, khi một biên bản hành chính có thể làm tê liệt cơ sở kinh doanh, khi công an và thuế vụ trở thành nỗi ám ảnh thường trực, thì tinh thần thị trường bị kéo lùi về tinh thần xin-cho. Bao cấp mới không bắt dân xếp hàng mua gạo, nhưng bắt người dân và doanh nghiệp xếp hàng xin được yên ổn.

Dấu hiệu thứ ba là trấn áp tiếng nói bất đồng. Thời bao cấp có Nhân Văn Giai Phẩm, có Chống Xét Lại, có lý lịch chính trị và những bản án dành cho người dám nghĩ khác với nhà nước.

Ngày nay, hình thức có thay đổi nhưng bản chất vẫn vậy. Một bài viết, một lời bình luận, một nút “like,” một chia sẻ trên mạng xã hội cũng có thể trở thành lý do để bị gọi làm việc, bị phạt tiền, bị đe dọa hoặc bị bắt. Đặc biệt nghiêm trọng là xu hướng kiểm soát nghề luật sư. Khi chủ tịch UBND cấp xã được trao quyền tước chứng chỉ hành nghề luật sư, và khi nhà nước đề xuất mô hình “luật sư công,” thì người bảo vệ pháp lý cho dân cũng bị đưa vào vòng kiểm soát. Luật sư vốn là người đứng giữa công dân và quyền lực nhà nước; nếu luật sư bị chính quyền cơ sở đe dọa nghề nghiệp, thì người dân mất đi một trong những chiếc khiên cuối cùng trước bộ máy hành chính.

Dấu hiệu thứ tư là quyền uy công an gần như tuyệt đối. Thời bao cấp công an có thể xông vào nhà bất kỳ lúc nào, tùy tiện đặt ra luật lệ tại chỗ, tùy tiện kết luận người dân nào là phần tử xấu, là có tư tưởng phản động.

Ngày nay, một lực lượng CA kiêu binh đông gấp 10 lần ngày xưa, bắt đầu xông vào nhà dân tịch thu xe dù ngày hay đêm và dù xe không đang tham gia lưu thông. CA tùy tiện xông vào tiệm, vào nhà dân tịch thu sản phẩm, kể cả sản phẩm do dân tự nuôi hay chế tạo, mà họ bảo là không chứng minh được nguồn gốc. Không chỉ người dân là đối tượng của công an, giới doanh nhân, báo chí, luật sư, trí thức, người hoạt động xã hội đều bị nhìn qua lăng kính an ninh chính trị bằng những cặp mắt hằn thù.

Dấu hiệu thứ năm là tuyên truyền bao trùm xã hội. Thời bao cấp, hệ thống tuyên truyền xem dân như trẻ em cần được giáo dục, chỉ dẫn và bảo vệ khỏi “tư tưởng độc hại.” Tin tức thế giới bị lọc qua lăng kính ý thức hệ. Báo chí không phải để kiểm soát quyền lực, mà để biện minh cho quyền lực.

Ngày nay, dù người dân có Internet và mạng xã hội, nhà nước vẫn tìm cách dựng lại bức tường ấy bằng luật an ninh mạng, kiểm duyệt nền tảng, xử phạt người viết, chặn nội dung bất lợi và buộc truyền thông chính thống đi theo một giọng nói duy nhất. Tuyên truyền thời kỹ thuật số tinh vi hơn tuyên truyền thời loa phường, vì nó không chỉ phát đi thông điệp một chiều mà còn tìm cách bóp nghẹt các nguồn thông tin đa chiều. Và rõ ràng hơn nữa, Tô Lâm đã chính thức đặt Đài Truyền hình, Truyền thanh và Thông Tấn Xã Việt Nam dưới sự kiểm soát và chỉ đạo trực tiếp của Trung ương đảng CSVN.

Dấu hiệu thứ sáu là khuyến khích dân theo dõi lẫn nhau. Bao cấp cũ có tổ dân phố, công an khu vực, lý lịch, kiểm điểm, báo cáo và những lời rỉ tai chính trị. Con người sống trong tâm thế dè chừng không chỉ hàng xóm, đồng nghiệp, mà cả người trong gia đình. Không khí ngột ngạt bao trùm từng ngõ, từng nhà.

Ngày nay, bao cấp mới có camera, dữ liệu dân cư, định danh điện tử, tố giác online, mạng lưới an ninh cơ sở và các chiến dịch khuyến khích báo cáo vi phạm có thưởng. Nhà nước không cần lúc nào cũng hiện diện bằng một cán bộ đứng trước cửa nhà người dân. Nó có thể hiện diện qua con mắt của camera, qua cơ sở dữ liệu, qua thuật toán, qua tài khoản định danh, qua một lời tố giác và qua nỗi sợ bị ghi nhận. Người dân đang từng bước trở về thời kỳ nhìn ai cũng nghi đó có thể là người hại mình.

Dấu hiệu thứ bảy là sự trở lại của phong trào thi đua và mô hình kiểu mẫu. Thời bao cấp, con người bị cuốn vào những phong trào thi đua yêu nước, lao động xã hội chủ nghĩa, làng văn hóa, gia đình văn hóa, đơn vị kiểu mẫu. Bề ngoài là động viên xã hội; bên trong là kiểm soát tư tưởng, hành vi và sự phục tùng.

Ngày nay, khẩu hiệu “kỷ nguyên vươn mình,” “xã phường xã hội chủ nghĩa kiểu mẫu,” “tăng trưởng hai con số,” “tự hào dân tộc” có nguy cơ trở thành những thước đo chính trị mới. Chúng không chỉ nhằm tạo khí thế mà quan trọng hơn là nhằm tạo ra tiêu chí để đo lòng trung thành, để phân biệt ai hưởng ứng và ai im lặng, ai “tích cực” và ai “có vấn đề.”

Từ bảy dấu hiệu ấy, có thể nói mô hình Tô Lâm đang dựng lên không phải là cải cách theo nghĩa khai phóng. Đó là một cuộc phục hồi bao cấp trong hình hài kỹ thuật số. Nhà nước không còn phát tem phiếu, nhưng phát quyền được yên ổn. Nhà nước không còn quản lý dân bằng sổ gạo, nhưng quản lý bằng dữ liệu. Nhà nước không còn cần xếp dân vào hợp tác xã, nhưng có thể xếp dân vào những hồ sơ hành chính và an ninh. Nhà nước cũng không còn cần đóng cửa thị trường như trước, nhưng sẽ làm cho thị trường nghẹt thở bằng kiểm tra đột xuất, thuế vụ và nỗi sợ.

Điều mỉa mai là tất cả đang được thực hiện nhân danh “vươn mình.” Nhưng một đất nước không thể vươn mình nếu người dân bị thu nhỏ lại thành đối tượng cần quản lý chặt chẽ.

Bao cấp thế kỷ 20 làm xã hội tê liệt vì khiến người dân thiếu gạo, thiếu vải, thiếu xăng. Bao cấp thế kỷ 21 làm xã hội tê liệt vì khiến người dân thiếu tự do, thiếu pháp quyền, thiếu không gian thở.

Vì thế, phải gọi đúng tên hiện tượng này. Đó không phải là kỷ nguyên vươn mình. Đó là kỷ nguyên bao cấp 2.0. Và với xu hướng này, Việt Nam sẽ không đi tới tương lai, mà quay trở lại quá khứ — chỉ khác là quá khứ ấy nay có camera, dữ liệu lớn và những khẩu hiệu mới.

25/4/2026

 

Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print

BÀI MỚI

Tài xế Grab tại TP.HCM. Ảnh: Bloomberg

Bloomberg: Tài xế xe công nghệ Grab tại Việt Nam lên kế hoạch ngừng chạy cuối tuần để phản đối mức chiết khấu

Các tài xế của Grab Holdings Ltd. tại Việt Nam đang kêu gọi đồng loạt ngừng bật app để phản đối mức chiết khấu trên doanh thu của công ty, mà họ cho là quá cao.

Theo các tài xế, Grab có thể giữ lại tới 50% giá cước, khiến thu nhập thực tế của họ giảm đáng kể trong bối cảnh giá nhiên liệu và chi phí bảo dưỡng, vận hành phương tiện ngày càng tăng.

Quang cảnh Lễ Tưởng Niệm Cố Đề Đốc Hoàng Cơ Minh và các Anh Hùng Đông Tiến lần thứ 39 tại thành phố Kazo, tỉnh Saitama, Nhật Bản ngày 13 tháng 9 năm 2026

Nhật Bản: Lễ Tưởng Niệm Kháng Chiến Quân Đông Tiến lần thứ 39 tại Saitama

Để tưởng nhớ và tri ân những vị Anh Hùng Đông Tiến đã hy sinh cho lý tưởng tự do, Lễ Tưởng Niệm Kháng Chiến Quân Đông Tiến lần thứ 39 đã được tổ chức trang nghiêm tại phòng hội cộng đồng thành phố Kazo, tỉnh Saitama, ngày 13 tháng 9 năm 2026. Buổi lễ có sự tham dự của đông đảo đồng hương Việt Nam đang sinh sống, học tập và làm việc tại Nagano, Nara, Kanagawa, Tokyo, Kazo cùng các khu vực lân cận.

Một tài xế lái xe GrabBike chở khách trên đường phố Hà Nội hôm 29/12/2018. Ảnh: Reuters

Áp lực trăm bề, tài xế Grab kêu gọi đình công để đòi quyền lợi

“Một cổ hai tròng,” những tài xế chạy xe dịch vụ Grab vừa phải chịu giảm thu nhập, lại thêm gánh nặng chi tiêu cho cuộc sống thường nhật.

Từ đầu tháng Chín mới đây, trên các diễn đàn Grab, nhiều tài xế tại nhiều tỉnh thành đang lan truyền lời kêu gọi tắt ứng dụng chạy xe trong hai ngày tới đây, 12 – 13/9, nhằm phản đối, tạo áp lực lên Grab vì chính sách chiết khấu hiện tại.

Dự án đường sắt Lào Cai – Hà Nội – Hải Phòng tăng vốn 42% trong khi dự án đường sắt East Coast Rail Link (ECRL) ở Malaysia giảm giá 32% sau khi thương lượng lại với phía Trung Quốc

Malasia giảm giá 32%, Việt Nam tăng vốn 42%: Hai đường ray, hai năng lực mặc cả với Trung Quốc?

Trong những dự án hạ tầng khổng lồ, năng lực quốc gia không chỉ được đo bằng khả năng huy động hàng trăm nghìn tỷ đồng hay bằng tốc độ “quyết liệt triển khai.” Đôi khi, năng lực quản trị thể hiện ở điều ngược lại: Biết dừng đúng lúc, kiểm tra lại một quyết định và đủ sức buộc đối tác trở lại bàn thương lượng.

Đó là bài học đáng chú ý nhất từ Malaysia.