Cạnh tranh thực sự đã mở màn trong khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương

Phó Tổng thống Mike Pence trong chuyến thăm Nhật Bản đầu tháng 11/2018. Ảnh: The White House
Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print
Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print

Chiến lược khu vực Ấn Độ-Thái Bình Dương Tự do và Rộng Mở (FOIP) chuẩn bị bước vào giai đoạn cao trào?

Đầu tháng 11 vừa qua, Phó Tổng thống Mỹ, Mike Pence, đến thăm Nhật Bản và đã gặp Thủ tướng Nhật Bản Shinzo Abe. Cuộc họp đưa ra tuyên bố nói rằng sẽ có chính sách tài trợ cho những công trình to lớn, các dự án cơ sở hạ tầng và đầu tư vào cơ sở hạ tầng liên quan tới lĩnh vực năng lượng trong khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương. Thông báo rất có thể đánh dấu chấm hết cho những lời lẽ khoa trương và khởi đầu một kỷ nguyên mới của cạnh tranh thực sự trong khu vực quan trọng sống còn về chiến lược này.

“Về phần mình, Mỹ đã tăng hơn hai lần khả năng của chúng tôi trong việc hỗ trợ các dự án phát triển tư nhân trong các nền kinh tế mới nổi. Đất nước tôi hiện đang cung cấp 60 tỉ USD tài trợ cho quá trình phát triển và các dự án cơ sở hạ tầng trong khu vực, Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương sẽ là ưu tiên hàng đầu của Mỹ. Chúng tôi xin cám ơn Thủ tướng, vì Nhật Bản đã đặt mục tiêu đầu tư 10 tỉ USD do các tổ chức nhà nước và tư nhân tiến hành vào các dự án cơ sở hạ tầng năng lượng có nhiều hứa hẹn. Và Mỹ mong muốn hợp tác chặt chẽ với Nhật Bản trong việc xác định các dự án có nhiều hứa hẹn nhất trong khu vực này”, Mike Pence nhấn mạnh.

Có nghĩa là Nhật Bản và Mỹ sẽ đầu tư tổng cộng 70 tỉ USD vào khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương. Trong khi đó, Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình đã tuyên bố tại Diễn đàn Hợp tác Trung Quốc – Châu Phi (FOCAC) rằng nước ông sẽ đầu tư 60 tỉ USD (trong đó có cả các khoản đầu tư tư nhân) vào các nước châu Phi. Trung Quốc cũng sẽ hỗ trợ và có những khoản đầu tư lớn vào khu vực Thái Bình Dương.

Một trong những lý do vì sao Sáng kiến “Một Vành đai, Một Con đường” của Trung Quốc có ý nghĩa quan trọng như thế đối với khu vực rộng lớn, trải dài từ Á-Âu (Eutasia) đến Châu Phi và Thái Bình Dương là sự hỗ trợ và đầu tư từ các nước phát triển, đặc biệt là Mỹ, đã giảm đi đáng kể và có xu hướng đi kèm với những đòi hỏi phiền toái liên quan đến dân chủ hóa và nhân quyền. Nhu cầu về cơ sở hạ tầng ở châu Phi và châu Á-Thái Bình Dương là rất lớn. Nguồn vốn từ các nước phát triển, Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB) và Ngân hàng Thế giới (WB) không thể đáp ứng được nhu cầu này. Người ta cần tiền của Trung Quốc. Ngoài ra, ngay cả khi lãi suất tương đối cao và chất lượng của các công trình được xây dựng bằng nguồn vốn của Trung Quốc là đáng ngại, các dự án Trung Quốc vẫn được chào đón nhiều hơn vì không đi kèm với điều kiện chính trị, thủ tục đơn giản, dễ hiểu và thời gian xây dựng không kéo dài. Thật vậy, các khoản đầu tư của Trung Quốc thường là lựa chọn hấp dẫn nhất đối với các nước đang phát triển trong khu vực.

Vì lý do đó, người ta nghĩ rằng các khoản đầu tư của Trung Quốc sẽ tiếp tục trong thời gian dài nữa, ngay cả khi những lời chỉ trích Sáng kiến “Một Vành đai, Một Con đường” xuất phát từ phương Tây ngày càng gia tăng và lo ngại về nền kinh tế của chính Trung Quốc trước những trục trặc về thương mại với Mỹ. Nhưng, với việc Washington và Tokyo chuẩn bị cung cấp một khoản tiền khổng lồ, các quốc gia trong khu vực này có thể lựa chọn giữa việc tiếp tục hướng hẳn sang Trung Quốc hay nhận những khoản hỗ trợ mới, to lớn từ Mỹ và Nhật Bản.

Kế hoạch này có thể giúp Mỹ giành lại vị trí đã bị mất, nhưng đây không phải là việc dễ. Trước hết, như trường hợp Campuchia đã cho thấy, trong những năm gần đây, Washington đã hạn chế ủng hộ những quốc gia mà họ cho là độc đoán. Trung Quốc đã nhanh chóng tiến vào và tận dụng được lợi thế, nhằm củng cố quan hệ với các nước này. Trong tương lai, Mỹ sẽ đối phó với các quốc gia độc tài như thế nào? Thứ hai, những khoản hỗ trợ của Mỹ sẽ không có những điều kiện kèm theo, hay sẽ lại có những yêu cầu về dân chủ và nhân quyền? Lãi suất thấp chắc chắn là một yếu tố hấp dẫn, nhưng người nhận cũng sẽ xem xét các khía cạnh khác – số tiền được cung cấp, tốc độ ra quyết định, các điều kiện kèm theo và tốc độ xây dựng. Giành được thế thượng phong so với Trung Quốc trong các lĩnh vực này là việc không dễ.

Dù sao mặc, những khoản hỗ trợ từ Nhật Bản và Mỹ sẽ cung cấp cho các nước đang phát triển trong khu vực những lựa chọn mới. Nhật Bản, Mỹ và Trung Quốc, với tư cách là nhà tài trợ, sẽ phải cạnh tranh với nhau. Các khoản đầu tư cơ sở hạ tầng của Trung Quốc liên kết chặt chẽ với việc hình thành trật tự mới trong khu vực. Nhật Bản và Mỹ có thể lái trở lại theo hướng có lợi cho trật tự cũ hay không?

Đối với Nhật Bản, dường như cuối cùng Mỹ đã quyết định đưa khái niệm khu vực Ấn Độ-Thái Bình Dương Tự do và Rộng Mở (Free and Open Indo-Pacific – FOIP) – cho đến nay chỉ là một chiến lược trên danh nghĩa – lên tầm cao mới. Nếu thế, Nhật Bản phải hợp tác với Mỹ. Đây là một tình huống mà Tokyo đã dự đoán suốt nhiều năm qua. Tuy nhiên, khi Abe đến thăm Trung Quốc vào cuối tháng 10 vừa rồi, hai nhà lãnh đạo đã thảo luận về hơn 50 dự án hợp tác kinh doanh giữa Nhật Bản và Trung Quốc ở các nước thứ ba. Abe không tuyên bố rằng Nhật Bản sẽ hợp tác với những dự án trong Sáng kiến “Một Vành đai, Một Con đường”, nhưng ông cam kết nhiều hơn với Trung Quốc. Do đó, Nhật Bản sẽ làm việc với Trung Quốc với một số điều kiện – một mặt, khuyến khích nước này tuân thủ trật tự quốc tế hiện hành, đồng thời thúc đẩy Chiến lược Ấn Độ-Thái Bình Dương Tự do và Rộng Mở (Free and Open Indo-Pacific – FOIP), coi đó là chính sách quan trọng trong quá trình hợp tác với Mỹ. Quan điểm này thực sự khá tương đồng với chính sách tham gia trước đây của Mỹ và chính quyền Abe buộc phải giải thích lập trường của mình với cử tọa cả trong nước lẫn trên trường quốc tế.

Shin Kawashima là giáo sư ở Đại học Tổng hợp Tokyo (University of Tokyo).

Nguyên bản Anh ngữ: True Competition Begins in the Indo-Pacific, The Diplomat

Shin Kawashima

Phạm Nguyên Trường dịch

Nguồn: Blog Phạm Nguyên Trường

 

Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print

BÀI MỚI

Sách "Chuyện với Thanh" và tác giả Nguyễn Thành Nam

Xã hội sẽ “tử tế” kiểu gì khi “hoàn lưu” những cuộc đấu tố trở lại?

Gieo nỗi sợ, người ta sẽ gặt được sự giả dối. Gieo đấu tố, người ta sẽ gặt sự phản trắc. Gieo thói quen kết tội người khác để bảo vệ mình, người ta sẽ tạo ra một xã hội trong đó không ai thực sự bảo vệ ai. Đến một ngày nào đó, khi chính quyền cần sự dấn thân, lòng can đảm và tinh thần trách nhiệm của công dân, điều họ nhận lại có thể chỉ là những khuôn mặt im lặng, những lời nói theo mẫu và một xã hội đã rút hết sinh khí vào bên trong.

Cuốn sách "Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng" bị thu hồi và tiêu hủy. Ảnh: Nhà xuất bản Hội Nhà Vă

Vụ Nguyễn Thành Nam và màn kịch bệnh hoạn của cả một xã hội

Càng theo dõi diễn biến của vụ việc Nguyễn Thành Nam, người ta càng nhận ra đây không phải là một vụ án “thông thường.” Điều khiến nó trở nên đặc biệt không nằm ở điều luật được áp dụng, mà nằm ở chính con người bị áp dụng điều luật ấy.

Bởi lần đầu tiên trong nhiều thập niên, một người từng công khai giảng dạy môn Tư tưởng Hồ Chí Minh, viết sách với mong muốn làm cho người trẻ hiểu và yêu Hồ Chí Minh hơn, lại bị cáo buộc là người “tuyên truyền chống Nhà nước.”

Ông Tô Lâm phát biểu tại Hội nghị Sơ kết 1 năm vận hành cơ chế mới tổ chức vào ngày 1 tháng 7, 2026. Ảnh chụp từ trang mạng Thể Thao & Văn Hóa

Điểm nghẽn của chế độ Tô Lâm

Điểm nghẽn lớn nhất của Việt Nam hôm nay không còn chỉ là thể chế hay năng lực thực thi. Điểm nghẽn sâu xa hơn là mục tiêu phát triển.

Một quốc gia sẽ đi theo đúng mục tiêu mà nó lựa chọn. Nếu mục tiêu cao nhất là duy trì quyền lực, thì mọi chính sách cuối cùng sẽ phục vụ cho việc bảo vệ quyền lực. Nhưng nếu mục tiêu cao nhất là con người và dân tộc Việt Nam, thì toàn bộ hệ thống chính trị, giáo dục, kinh tế và văn hóa sẽ phải được tổ chức lại để khai mở tiềm năng của con người.

Thủ đô Seoul của Hàn Quốc. Quốc gia này là một trong số những ví dụ thành công về việc thoát khỏi “bẫy thu nhập trung bình.” Ảnh: Gije Cho - Pexels

Bẫy thu nhập trung bình

Cái bẫy này người ta gọi là Bẫy thu nhập trung bình, thuật ngữ do hai nhà kinh tế Indermit Gill và Homi Kharas đặt ra năm 2007, khi họ đang nghiên cứu chiến lược phát triển cho các nước Đông Á.

Ý tưởng cốt lõi thì đơn giản thôi: Một quốc gia nghèo có thể tăng trưởng khá nhanh nhờ mấy lợi thế có sẵn, tài nguyên, nhân công rẻ, hay viện trợ nước ngoài. Nhưng đến một ngưỡng nào đó, mọi thứ chững lại. Lương tăng lên rồi, thế là mất luôn lợi thế “rẻ.”