Chỉ hươu nói ngựa – Kỳ III: Đại hội XIV ĐCSVN – Kim tiền và toàn trị thay pháp quyền

Ảnh minh họa: Chỉ hươu nói ngựa
Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print
Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print

Kỳ III: Đại hội XIV ĐCSVN – Kim tiền và toàn trị thay pháp quyền

Tư Tiếu Nguyễn Hữu Quang

Nếu Kỳ I là câu chuyện về ngôn ngữ quyền lực bị cưỡng bức, Kỳ II là sự “thoát xác” của một lý tưởng chỉ còn lại cái vỏ chủ nghĩa xã hội, thì Kỳ III này chạm tới điểm rơi của hệ thống: Khoảnh khắc khi pháp quyền không còn là trụ cột, mà bị thay thế bằng kim tiền kết hợp với toàn trị như hai bánh răng ăn khớp nhau.

Đại hội XIV của ĐCSVN, dù chưa diễn ra, đã hiện diện trên đường chân trời chính trị. Không phải nhờ các văn kiện sẽ mang tư tưởng mới, mà vì nó đánh dấu sự hoàn tất của một quá trình: Quá trình chuyển hóa từ nhà nước pháp quyền từng được hứa hẹn, sang một cơ chế đảng trị vận hành bằng quyền lực tập trung và lợi ích kinh tế.

Cần nói rõ: Pháp quyền không sụp đổ trong một ngày. Nó bị làm rỗng dần, bị vô hiệu hóa từng phần, cho tới khi chỉ còn tồn tại như một thuật ngữ trong diễn văn. Luật pháp vẫn được ban hành, tòa án vẫn hoạt động, quốc hội vẫn họp. Nhưng các thiết chế ấy không còn giữ vai trò tối thượng trong việc giới hạn quyền lực. Chúng trở thành những tầng hợp thức hóa, không còn là các trung tâm kiểm soát.

Trong cấu trúc ấy, hai lực lượng nổi lên thay thế pháp quyền: Kim tiền và toàn trị.

Kim tiền không chỉ là tham nhũng theo nghĩa thông thường. Nó là sự đan xen có hệ thống giữa quyền lực chính trị và lợi ích kinh tế. Quyền lực tạo điều kiện cho tích lũy tài sản, còn tài sản lại nuôi dưỡng và bảo vệ quyền lực. Khi các tập đoàn kinh tế lớn không thể tồn tại ngoài “ô dù chính trị,” và khi các nhóm quyền lực chính trị cần nguồn lực tài chính để duy trì ảnh hưởng, thì luật pháp tất yếu bị bẻ cong để phục vụ sự cộng sinh ấy.

Trong bối cảnh đó, chống tham nhũng không còn là một cơ chế pháp quyền, mà trở thành công cụ điều chỉnh nội bộ quyền lực. Nó được triển khai có chọn lọc, đúng thời điểm, đúng đối tượng. Không phải để thiết lập luật chơi công bằng, mà để tái phân phối ảnh hưởng trong hệ thống. Kim tiền không bị loại bỏ; nó chỉ được chuyển tay.

Nhưng kim tiền, tự thân, không đủ để duy trì trật tự. Nó cần một đối tác: Toàn trị.

Toàn trị ở đây không nhất thiết mang hình thức cổ điển của những cuộc vận động quần chúng ồn ào. Nó vận hành tinh vi hơn, bằng công nghệ giám sát, bằng kiểm soát thông tin, bằng luật an ninh được diễn giải rộng, và bằng việc biến im lặng thành một chuẩn mực xã hội. Người dân không cần phải tin; họ chỉ cần không lên tiếng.

Khi toàn trị thay thế pháp quyền, nguyên tắc căn bản của nhà nước pháp quyền – rằng quyền lực bị giới hạn bởi luật pháp – bị đảo ngược. Quyền con người không còn là nền tảng, mà trở thành đặc ân có điều kiện. Sự tuân phục chính trị trở thành tiêu chí an toàn, còn phản biện bị xem là rủi ro.

Trong bối cảnh ấy, đại hội XIV không phải là nơi định hình tương lai đất nước, mà là nơi chuẩn hóa một trật tự đã hình thành. Những khái niệm như “ổn định,” “an ninh,” “kỷ cương” tiếp tục được đặt cao hơn “pháp quyền,” “quyền công dân” hay “trách nhiệm giải trình.” Không hẳn vì ác ý cá nhân, mà vì logic tự thân của một hệ thống không chấp nhận kiểm soát quyền lực.

Một hệ thống không có cạnh tranh chính trị thực sự buộc phải tìm nguồn chính danh khác. Khi lý tưởng đã rỗng, khi tăng trưởng kinh tế chững lại, thì kiểm soát trở thành phương thức duy nhất để duy trì trật tự. Kim tiền giúp mua sự trung thành của các nhóm lợi ích; toàn trị giúp răn đe phần còn lại của xã hội.

Ở điểm này, “chỉ hươu nói ngựa” không còn là tranh luận học thuật. Nó trở thành thực hành thường nhật. Người ta coi sợ hãi là ổn định. Gọi sự im lặng là đồng thuận. Gắn sự phục tùng là yêu nước. Và coi trật tự dựa trên cưỡng chế là “pháp quyền xã hội chủ nghĩa.”

Nhưng pháp quyền, về bản chất, không thể tồn tại trong một môi trường như vậy. Pháp quyền đòi hỏi luật pháp đứng trên quyền lực, không phải ngược lại. Đòi hỏi tòa án độc lập, không bị chỉ đạo chính trị. Đòi hỏi báo chí tự do để giám sát. Và trên hết, đòi hỏi người dân có quyền lựa chọn và thay đổi chính quyền. Thiếu những điều kiện ấy, mọi tuyên bố về pháp quyền chỉ là trang trí ngôn ngữ.

Chính trong bối cảnh ấy, việc Ba Sàm Nguyễn Hữu Vinh tiếp tục công bố các bài viết phân tích cái giá máu của chủ nghĩa xã hội toàn trị trên thế giới không phải là hành vi “chống đối,” mà là hành vi giữ ký ức cho xã hội (1). Lịch sử cho thấy: Các chế độ toàn trị sụp đổ không phải vì thiếu tuyên truyền, mà vì không thể xóa hết ký ức.

Ngược lại, hình ảnh một trí thức hơn 90 tuổi – cụ Nguyễn Khắc Mai – bị nhiều cấp công an “làm việc” tại tư gia, buộc phải gỡ bỏ các bài viết phê phán mô hình Xô-viết đã đày đọa Việt Nam suốt gần một thế kỷ, là một biểu tượng đáng buồn: Quyền lực không cần phản biện, chỉ cần sự tuân phục im lặng (2).

Khi im lặng trở thành nghĩa vụ công dân, thì đúng – sai không còn giá trị. Chỉ còn thuận – nghịch. Và đó chính là điểm mà mọi triều đại trong lịch sử đã bước tới trước khi sụp đổ.

Nhà Tần không chết vì ngoại xâm. Nó chết vì không còn khả năng tự nói thật với chính mình. Khi mọi con hươu đều phải gọi là ngựa, thì sự thật – nếu còn tồn tại – cũng không còn ngôn ngữ để lên tiếng.

Nếu đại hội XIV tiếp tục con đường kim tiền thoát xác, tiếp tục dùng công an trị thay cho pháp quyền, tiếp tục buộc xã hội tham gia vào nghi thức nói dối tập thể, thì lịch sử không cần dự đoán. Nó đã có tiền lệ.

Không phải mùa xuân của nhân loại. Mà là kỷ băng hà của cả Dân tộc! Và đó mới là thảm họa cuối cùng, nếu chúng ta để nó xảy ra! 

Thay lời kết

Chuyển động của Việt Nam hôm nay không diễn ra trong chân không. Nó nằm trong một trật tự quốc tế đang tái cấu trúc mạnh mẽ, nơi các mô hình toàn trị – dù khoác áo ý thức hệ hay dân tộc chủ nghĩa – đều bước vào thế phòng thủ. Nga sa lầy trong xung đột kéo dài, Trung Quốc chao đảo vì khủng hoảng nội tại và sự nghi ngờ ngày càng lớn của thế giới. Thông điệp từ phương Tây: Toàn trị không còn là lựa chọn trung lập.

Trong bối cảnh ấy, Việt Nam đứng trước một ngã rẽ. Con đường quen thuộc là tiếp tục siết kiểm soát, mở rộng công an trị, dùng kim tiền và cưỡng chế để duy trì ổn định ngắn hạn. Con đường khác khó khăn hơn nhưng bền vững: Từng bước dân chủ hóa, khôi phục pháp quyền thực chất, mở rộng không gian phản biện và xã hội dân sự, qua đó tranh thủ được sự ủng hộ chiến lược của Hoa Kỳ và phương Tây.

Không ai đòi hỏi Việt Nam phải trở thành một nền dân chủ hoàn hảo. Điều thế giới cần là một đối tác có thể dự đoán, tôn trọng luật chơi quốc tế, và không dựa trên đàn áp nội bộ để duy trì quyền lực. Không quốc gia nào trở thành đồng minh chiến lược lâu dài chỉ bằng khẩu hiệu.

Trượt sâu vào độc tài không chỉ khiến Việt Nam lệ thuộc vào những cấu trúc quyền lực đang suy yếu, mà còn đóng dần cánh cửa hội nhập chiến lược với thế giới dân chủ – nơi vẫn là nguồn lực chủ yếu về công nghệ, thị trường và tri thức.

Việt Nam hôm nay vẫn còn thời gian để chọn con đường khác. Nhưng thời gian ấy không vô hạn. Giữa một thế giới đang đổi trật tự, câu hỏi không còn là có tiếp tục “chỉ hươu nói ngựa” hay không, mà là: Ai sẽ dám gọi sự thật bằng đúng tên của nó, trước khi lịch sử lên tiếng thay?

Chú thích:

(1) https://anhbasamdotvet.wordpress.com/2026/01/11/196-chu-nghia-xa-hoi-la-toi-ac-thu-han/

(2) https://baotiengdan.com/2026/01/04/suy-nghi-cung-anh-to-lam-va-the-he-lanh-dao-moi-cua-dai-hoi-14-bai-1/

XEM THÊM:

 

Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print

BÀI MỚI

Sách "Chuyện với Thanh" và tác giả Nguyễn Thành Nam

Xã hội sẽ “tử tế” kiểu gì khi “hoàn lưu” những cuộc đấu tố trở lại?

Gieo nỗi sợ, người ta sẽ gặt được sự giả dối. Gieo đấu tố, người ta sẽ gặt sự phản trắc. Gieo thói quen kết tội người khác để bảo vệ mình, người ta sẽ tạo ra một xã hội trong đó không ai thực sự bảo vệ ai. Đến một ngày nào đó, khi chính quyền cần sự dấn thân, lòng can đảm và tinh thần trách nhiệm của công dân, điều họ nhận lại có thể chỉ là những khuôn mặt im lặng, những lời nói theo mẫu và một xã hội đã rút hết sinh khí vào bên trong.

Cuốn sách "Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng" bị thu hồi và tiêu hủy. Ảnh: Nhà xuất bản Hội Nhà Vă

Vụ Nguyễn Thành Nam và màn kịch bệnh hoạn của cả một xã hội

Càng theo dõi diễn biến của vụ việc Nguyễn Thành Nam, người ta càng nhận ra đây không phải là một vụ án “thông thường.” Điều khiến nó trở nên đặc biệt không nằm ở điều luật được áp dụng, mà nằm ở chính con người bị áp dụng điều luật ấy.

Bởi lần đầu tiên trong nhiều thập niên, một người từng công khai giảng dạy môn Tư tưởng Hồ Chí Minh, viết sách với mong muốn làm cho người trẻ hiểu và yêu Hồ Chí Minh hơn, lại bị cáo buộc là người “tuyên truyền chống Nhà nước.”

Ông Tô Lâm phát biểu tại Hội nghị Sơ kết 1 năm vận hành cơ chế mới tổ chức vào ngày 1 tháng 7, 2026. Ảnh chụp từ trang mạng Thể Thao & Văn Hóa

Điểm nghẽn của chế độ Tô Lâm

Điểm nghẽn lớn nhất của Việt Nam hôm nay không còn chỉ là thể chế hay năng lực thực thi. Điểm nghẽn sâu xa hơn là mục tiêu phát triển.

Một quốc gia sẽ đi theo đúng mục tiêu mà nó lựa chọn. Nếu mục tiêu cao nhất là duy trì quyền lực, thì mọi chính sách cuối cùng sẽ phục vụ cho việc bảo vệ quyền lực. Nhưng nếu mục tiêu cao nhất là con người và dân tộc Việt Nam, thì toàn bộ hệ thống chính trị, giáo dục, kinh tế và văn hóa sẽ phải được tổ chức lại để khai mở tiềm năng của con người.

Thủ đô Seoul của Hàn Quốc. Quốc gia này là một trong số những ví dụ thành công về việc thoát khỏi “bẫy thu nhập trung bình.” Ảnh: Gije Cho - Pexels

Bẫy thu nhập trung bình

Cái bẫy này người ta gọi là Bẫy thu nhập trung bình, thuật ngữ do hai nhà kinh tế Indermit Gill và Homi Kharas đặt ra năm 2007, khi họ đang nghiên cứu chiến lược phát triển cho các nước Đông Á.

Ý tưởng cốt lõi thì đơn giản thôi: Một quốc gia nghèo có thể tăng trưởng khá nhanh nhờ mấy lợi thế có sẵn, tài nguyên, nhân công rẻ, hay viện trợ nước ngoài. Nhưng đến một ngưỡng nào đó, mọi thứ chững lại. Lương tăng lên rồi, thế là mất luôn lợi thế “rẻ.”