Cổ lai chinh chiến kỷ nhân hồi

Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print
Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print

Bồ đào mĩ tửu dạ quang bôi,
Dục ẩm tỳ bà mã thượng thôi.
Túy ngọa sa trường quân mạc tiếu,
Cổ lai chinh chiến kỷ nhân hồi!
(Lương Châu Từ)

Bài thơ trên là một trong những bài tứ tuyệt nổi tiếng nhất của văn học Trung Quốc mà hầu như chẳng mấy ai yêu thơ Đường lại không biết đến. “Lương Châu Từ” có nghĩa là Khúc Hát Châu Lương, một địa danh thuộc vùng biên giới Tây Bắc nước Tàu tiếp giáp với Mông Cổ. Lương Châu Từ do Vương Hàn (687-726) làm ra năm 713 khi ông bị triều đình nhà Đường đày ra Lương Châu do tính bộc trực của mình.

Bài thơ của Vương Hàn được dịch như sau:

Bồ đào, rượu rót chén lưu ly
Muốn uống, tỳ bà giục ngựa đi
Bãi cát say nằm, chê cũng mặc
Xưa nay chinh chiến mấy ai về.

Người đọc Lương Châu từ, tùy theo mối cảm xúc riêng mà có những mức độ thưởng thức khác nhau, nhưng có lẽ cũng chung niềm cảm khái ở câu cuối:

Cổ lai chinh chiến kỉ nhân hồi
(Xưa nay chinh chiến, mấy ai về).

Và với những tâm tư của câu thơ này, tôi xin ghi lại những cảm nhận của mình với sự hy sinh của những người đang âm thầm đấu tranh cho dân chủ tại VN. Họ đang chịu một tai họa khủng khiếp đang giáng xuống đầu: chỉ hơn một tuần lễ, hơn 100 năm tù giam và hơn 30 năm quản chế cho 10 anh chị em trong số họ. Các anh Đài, Tôn, Đức, Truyển, Hùng, Trội, Túc, Dũng, các chị Xuân và Thu Hà.

Tôi có cái may mắn được trò chuyện với hầu như tất cả 10 anh chị em này. Mỗi người một tính cách, mỗi người một tư duy, một thói quen hoặc một tật xấu. Nhưng tất cả có một điểm chung là lòng nhiệt huyết và suy nghĩ lạc quan, cho dù hình như chưa bao giờ tôi hỏi: “Động lực nào khiến bạn chọn con đưòng này”, hoặc “bạn có nghĩ đến ngày nào đó chúng ta sẽ thành công?”.

Khi còn đứng trên bục giảng, tôi đã làm đủ mọi cách để “cạy miệng” lũ sinh viên kỹ thuật mà bản chất của chúng là thụ động, nên tôi đã khá thành công khi gợi chuyện để đón nhận những tâm tình của các anh chị đi đấu tranh, đặc biệt là 9 anh chị vừa bị kết án. Và chính những tâm tình bộc trực này đã để lại trong tôi một ấn tượng không bao giờ phai nhòa, mà tôi xin được nhắc lại, đó là lòng nhiệt huyết và sự lạc quan.

“Chọn con đường này là mình phải chuẩn bị lên đường bất cứ lúc nào”. Lên đường ở đây có nghĩa là đi tù. Nên nhớ rằng tất cả 8 anh được nêu tên ở trên đều đã bị kết án tù trước đây, điều này có nghĩa là các anh đều đã ý thức được hiểm nguy đang rình rập mình mọi lúc mọi nơi nhưng vẫn sẵn sàng chấp nhận cuộc sống tù đày lần thứ hai. Đây là điều không phải ai cũng dám thực hiện.

“Chọn con đường này là mình phải chuẩn bị lên đường bất cứ lúc nào”. Tôi còn nhớ khi nói câu này các anh không có phừng phừng sát khí hoặc đập bàn vỗ ghế, mà nói với một giọng chậm rãi và từ tốn ‒ như thể là đang vừa suy nghĩ vừa nói. Biểu hiện này thường thấy khi người ta đang trút hết nỗi lòng của mình ra vậy.

Thường thường sau khi nói ra câu này, anh em chúng tôi đều im lặng. Im lặng bởi vì không có gì phải hỏi thêm, nhưng phần cũng để tâm hồn mình lắng đọng với bao câu hỏi đang quay trong đầu: “Trong hai đứa, đứa nào đi trước?”, “Liệu anh em có còn gặp lại nhau sau khi ra tù lần sau?”, – “Không biết bố mẹ, vợ (chồng) có còn hay mất?”, và thậm chí “Chính mình có còn sống được đến ngày mãn tù hay không?”.

Xưa nay chinh chiến, mấy ai về! Vương Hàn đã viết ra câu ai oán này nghe nói để kể về thân phận những người lính dưới quyền đang gió sương ngoài biên ải và trong thời điểm đất nước Trung Hoa loạn lạc. Dù gì thì đây cũng là những người lính của triều đình, được phát lương và theo ý thơ thì trước khi xuất quân lên đường, họ thường đều được uống rượu nho thỏa thích và được tiễn đưa trọng thể.

Còn những Đài, Tôn, Đức, Truyển, Hùng, Trội, Túc, Dũng, Xuân và Thu Hà; các anh chị ấy đi vào đấu tranh chỉ với con tim và khối óc. Không ai bắt buộc họ, có chăng là sự thôi thúc của lương tâm. Chẳng ai trả lương cho họ, có chăng chỉ là sự đóng góp khiêm tốn của những người đang được sống bình yên. Và họ cũng ý thức rằng con đường đấu tranh sẽ đầy rẫy chông gai chứ chẳng hề có “tiễn đưa trọng thể” hoặc “rượu nho thỏa thích”.

Với tâm tư như thế, các anh hùng của chúng ta ngày hôm nay còn vĩ đại gấp bội lần những người lính của Vương Hàn thuở nào.

 

Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print

BÀI MỚI

Biểu tình chống Dự luật Đặc khu tại Sài Gòn hôm 10/6/2018. Ảnh: VNTB

Biểu tình: Một quyền chính trị quan trọng bị cấm kỵ

Xuyên suốt lịch sử lập hiến của Việt Nam, quyền hội họp và biểu tình luôn được ghi nhận trong các bản Hiến pháp năm 1959 tại Điều 25, Hiến pháp 1980 tại Điều 67, và Hiến pháp 1992 tại Điều 69. Tuy nhiên,  thực tế lịch sử lại không như vậy.

Cho đến nay, Điều 25 của Hiến pháp 2013 vẫn khẳng định công dân có quyền tự do ngôn luận, báo chí, hội họp và biểu tình. Thế nhưng, quyền biểu tình và hội họp vẫn bị treo vô thời hạn!

Ảnh minh họa: Internet

Phát triển và thu hút nhân tài từ nhỏ – trong nước nói, nước ngoài làm

Trong khi Việt Nam vẫn đang hô hào “trọng dụng nhân tài” ở mọi cấp độ, các quốc gia khác đã âm thầm thu hút nguồn lực xuất sắc của chúng ta từ lúc các em còn ngồi trên ghế lớp 8, lớp 9.

Không phải ngẫu nhiên mà Singapore triển khai hai chương trình học bổng lớn – ASEAN Scholarship và A*STAR Scholarship – nhắm trực tiếp vào học sinh Việt Nam từ độ tuổi 14–16.

Ông Tô Lâm phát biểu tại Diễn đàn Đối thoại Shangri-La, Singapore hôm thứ Sáu 29/5/2026. Ảnh: Reuters

Tô Lâm: Ngoại giao một đằng, nội trị một nẻo?

Đó là nghịch lý lớn nhất của đời sống chính trị Việt Nam hiện nay. Đối ngoại thì nói ngôn ngữ của đối thoại, nhưng đối nội lại vận hành bằng ngôn ngữ của kiểm soát. Đối ngoại thì kêu gọi tôn trọng khác biệt, nhưng đối nội lại rất ít chỗ cho những tiếng nói khác biệt. Đối ngoại thì nói về hòa bình, nhưng đối nội lại duy trì một không khí khiến nhiều người e ngại khi bày tỏ quan điểm của mình về những vấn đề hệ trọng của đất nước.

Ảnh minh họa: Mạc Đĩnh Chi đi sứ sang Tàu

Mạc Đĩnh Chi – Nhà ngoại giao hay thi sĩ

Khi sứ đoàn Đại Việt chuẩn bị hồi hương, triều đình nhà Nguyên báo tin một công chúa được vua hết mực yêu thương vừa qua đời. Mạc Đĩnh Chi lại được triệu vào để đọc điếu văn cho công chúa. Theo lời truyền đạt, Mạc Đĩnh Chi sẽ được giao cho một bài điếu văn đã được viết sẵn. Tuy nhiên, khi mở trang giấy, trước mắt ông chỉ có duy nhất một chữ: “Nhất”!

Chỉ sau một thoáng lặng im, Trạng nguyên Mạc Đĩnh Chi đã xuất thần đọc một bài điếu…