‘Cú sốc’ giáo dục

Hình chụp bài báo Vietnamnet. Ảnh: FB Nguyễn Tuấn
Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print
Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print

Nhân ngày 30/4 báo chí thỉnh thoảng có những bài ghi lại những cảm nhận của những người từ miền ngoài vào ‘tiếp quản’ Sài Gòn lúc đó (1975). Bài này (đăng ngày 30/4/2018) do Vietnamnet chạy cái tít hơi giật gân, nhưng nội dung thì rất đáng đọc vì viết về cảm nhận về nền giáo dục thời trước 1975 của một người trong cuộc.

Ts Nguyễn Kim Hồng là cựu hiệu trưởng Trường Đại học Sư phạm TP.HCM (trước đây là một phân khoa của Viện Đại học Sài Gòn thời VNCH). Ông kể rằng khi được phân công vào ‘tiếp quản’ nơi đây, ông đã bị sốc. Cú sốc đầu tiên là ông ‘không ngờ Sài Gòn lớn và đẹp đến như vậy.’

Vào phân khoa sư phạm, ông ngạc nhiên khi thấy cơ sở vật chất của phân khoa tốt hơn hẳn ngoài Hà Nội. Thời đó mà đã có các camera truyền hình ảnh trực tiếp. Về giảng viên, ông nhận xét rằng:

“Trong lĩnh vực khoa học xã hội, theo tôi những giảng viên trước 1975 ở miền Nam được đào tạo tốt hơn.”

Nhưng ông còn sốc hơn khi tiếp xúc với sinh viên miền Nam. Ông nói:

“Sinh viên Sài Gòn rất lễ phép. Đa phần sinh viên Sài Gòn thời điểm đó đều xưng con với tôi, mặc dù tôi chỉ hơn họ 3-4 tuổi thôi. Việc khoanh tay để chào khách, chào thầy, cô ở miền Bắc được coi là hiếm nhưng ở Sài Gòn lại như một điều tất nhiên. Tôi cảm giác nhà trường và các gia đình Nam Bộ chú ý nhiều hơn đến việc dạy lễ cho con em mình.

[…]

Tôi cho rằng trước năm 1975, họ đã được dạy về những giá trị cá nhân của con người nên không bao giờ để chuyện này xen vào công việc, vào đời sống chính trị. Đó là những điểm văn hóa rất khác với người miền Bắc.”

Nhà văn Vương Trí Nhàn cũng có những nhận xét về nền văn học, giáo dục miền Nam và người Nam giống giống như vậy. Ông còn cho biết rằng nhiều người miền Bắc khi vào miền Nam đều nghĩ vậy nhưng chẳng ai viết ra. Nhưng Ts Nguyễn Kim Hồng và Nhà văn Vương Trí Nhàn thì viết ra, và họ đóng góp vào một cái nhìn công tâm hơn về nền giáo dục thời xưa. Nhà văn viết:

“Nhìn rộng ra thấy không chỉ kinh tế tốt hơn mà giáo dục miền Nam lúc đó cũng hơn; không chỉ đường xá tốt, mà tư cách cá nhân của con người trong đó nói chung cũng trưởng thành hơn con người miền Bắc, trình độ hiểu biết và tuân thủ luật pháp tốt, giữa người với người có mối quan hệ tử tế, thanh thiếu niên lúc đó ham học và biết học hơn.”

Ngày nay, một số bạn trẻ cứ thắc mắc hỏi tại sao những người có tuổi thường hay nhắc về nền giáo dục thời xưa, thì hai vị này đã giúp cho họ có câu trả lời. Hồi đó, triết lý giáo dục được tóm lược trong 3 chữ: nhân bản, dân tộc, và khai phóng.

Nhân bản có nghĩa là lấy con người làm gốc, lấy cuộc sống của con người trong cuộc đời này làm căn bản; xem con người như một cứu cánh chứ không phải như một phương tiện hay công cụ phục vụ cho mục tiêu của bất cứ cá nhân, đảng phái, hay tổ chức nào khác. Với triết lý nhân bản, mọi người có giá trị như nhau và đều có quyền được hưởng những cơ hội đồng đều về giáo dục.

Dân tộc có nghĩa là đề cập đến việc tôn trọng giá trị truyền thống của dân tộc trong mọi sinh hoạt liên hệ tới gia đình, nghề nghiệp, và quốc gia. Giáo dục phải bảo tồn và phát huy được những tinh hoa hay những truyền thống tốt đẹp của văn hóa dân tộc. Dân tộc tính trong văn hóa cần phải được các thế hệ biết đến, bảo tồn và phát huy, để không bị mất đi hay tan biến trong những nền văn hóa khác.

Khai phóng có nghĩa là cởi mở và cấp tiến, không phải đóng cửa và bảo thủ. Sẵn sàng tiếp nhận tinh thần dân chủ, phát triển xã hội, giá trị văn hóa nhân loại để góp phần vào việc hiện đại hóa quốc gia và xã hội, làm cho xã hội tiến bộ tiếp cận với văn minh thế giới.

Thời gian gần đây nhiều học giả than phiền rằng Việt Nam chưa có một triết lý giáo dục. Theo tôi, cứ lấy triết lý Nhân bản – Dân tộc – Khai phóng làm nền tảng cho nền giáo dục là thực tế nhứt, chẳng cần phải đi tìm đâu xa xôi.

Ps. Xin giới thiệu bài Hành Khúc Học Sinh của nhạc sĩ Lê Thương. Thời đó, học sinh nào cũng thuộc bài này:

(Video: Âm nhạc cổ điển Việt Nam)

Nguồn: FB Nguyễn Tuấn

 

Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print

BÀI MỚI

Biển Đông. Ảnh minh họa: DW

Cập nhật tình hình tại quần đảo Hoàng Sa và bãi Hoàng Nham tháng 4/2026

Dưới đây là tình hình quần đảo Hoàng Sa chiếm đóng bởi Trung Quốc và vùng tranh chấp bãi Hoàng Nham thuộc chủ quyền Philippines, dựa trên báo cáo tình báo mở, hình ảnh vệ tinh từ AMTI – CSIS, Reuters, WSJ, ABC News và các nguồn độc lập khác (cập nhật đến tháng 4/2026).

Khán giả theo dõi phim "The General" công chiếu tại SBTN Studio, TP. Garden Grove, Nam California hôm 18/4/2026. Ảnh: FB The General: Vietnam in the Age of To Lam

Nam California: Người xem nói gì sau buổi chiếu “The General”?

Thật ấm lòng khi được gặp lại những gương mặt đồng hương thân quen trong nhiều lĩnh vực: Giáo dục, thương mại, truyền thông, và nghệ thuật đến tham dự.

Nhiều người mong muốn có thêm các buổi chiếu tiếp theo để giới thiệu bộ phim đến bạn bè và gia đình. Một số người có dự định mang phim vào các đại học và các trường Việt Ngữ. Một nhà báo được đào tạo từ BBC ngỏ ý tham gia vào nhóm cố vấn cho dự án phim tiếp theo…

Một con phố Sài Gòn trước năm 1975. Ảnh: FB Manh Dang/ Internet

“Sài Gòn đẹp lắm”

Chúng ta vẫn thường nghe nhạc phẩm này trong phiên bản điệu Cha-cha-cha vui tươi, phóng khoáng, như nhịp sống náo nhiệt, hối hả của phố thị phồn hoa.

Thế nhưng, cách nay hai tháng, tôi chợt thấy lòng mình thắt lại khi nghe lại bản nhạc ấy trong một không gian hoàn toàn khác. Chúng được dùng làm nhạc nền mở đầu và kết thúc cho bộ phim tài liệu “The General” của nữ đạo diễn Laura Brickman. Để rồi từ đó, “Sài Gòn đẹp lắm” trong tôi đã trở thành một nỗi ám ảnh đầy day dứt.

Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình (phải) và Tổng bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm trong chuyến thăm cấp nhà nước của ông này tại Trung Quốc từ 14 - 17/4/2026. Ảnh: VTC News

Chuyến thăm cấp nhà nước của Tô Lâm tới Trung Quốc: “Trở đi mắc núi, trở lại mắc sông?”

Khẳng định kiểu “phát triển quan hệ Việt Nam – Trung Quốc là lựa chọn chiến lược, có ý nghĩa toàn cục và lâu dài…” dần trở nên lạm phát. Lần này cũng vậy. Truyền thông nhấn mạnh kim ngạch thương mại kỷ lục, hợp tác hạ tầng, AI, mạng 5G, đổi mới sáng tạo… Nhưng về bản chất, quan hệ Trung – Việt vẫn vận hành trên nền tảng cũ: Hợp tác kinh tế nhiều mặt song hành với nghi kỵ chiến lược sâu sắc.