Khao khát tháng Tư

Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print
Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print

Đời sống xa quê có trăm niềm vui nhưng có vạn nỗi buồn.

Buồn cho những số phận ly hương, tìm kiếm hơi thở tự do trên đất khách. Buồn cho quê nhà vẫn còn bị loài sâu bọ cộng sản độc tài gậm nhấm, dày xéo từng ngày từng giờ.

Sự phẫn uất cũng đã lên đến tột cùng, khi nhìn thấy những con dân Việt đang phải sống lưu vong ngay chính trên quê cha đất Tổ của mình: bà con Dương Nội, giáo xứ Cồn Dầu, vườn rau Lộc Hưng v.v…

Tất cả đã xuất phát từ Ngày Định Mệnh Đau Thương: 30 tháng 4 năm 1975.

Đây là ngày mà chế độ CSVN đã vùi dập cả một thế hệ thanh niên đầy sức sống, phải gác lại tương lai lên đường “Bảo Quốc An Dân” để xây dựng một miền Nam tự do, thanh bình và trù phú, xứng đáng với danh hiệu “Sài Gòn – Hòn Ngọc Viễn Đông”.

Hàng trăm ngàn người trong số họ bị lùa vào những trại tù cải tạo không biết ngày về. Không những thế, chế độ CSVN còn tổ chức trả thù, đánh tư sản gia đình Nguỵ quân – Nguỵ quyền: cướp sạch, đốt sạch, gom hết tài sản của dân lành miền Nam mang ra nuôi miền Bắc. Họ tịch thu nhà cửa, đày ải người thành thị về vùng kinh tế mới: trồng khoai mì, ăn bo bo sống tạm bợ qua ngày, để gọi là xây dựng khu kinh tế mới.

Với những hành xử “cạn tầu, ráo máng”, trả thù nhỏ nhen đầy hận thù như vậy, những con người ngạo mạn “đứng trên đỉnh cao trí tuệ loài người” dám mạnh miệng tự hào rằng họ đã giải phóng miền Nam nghèo đói.

44 năm nhìn lại Việt Nam ngày nay, xin hỏi: “ai đã giải phóng ai?”

Trớ trêu thay, Hiệp Định Paris 1973 được gọi là hiệp định chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam, nhưng chữ ký trên Hiệp Định chưa ráo mực, lực lượng Cộng sản miền Bắc đã xé bỏ Hiệp Định, xua quân cưỡng chiếm Miền Nam.

Kể từ Tháng 4 đen tối đó, hơn 2 triệu người Việt đã trốn chạy cộng sản và ngày hôm nay sự trốn chạy vẫn tiếp tục dưới nhiều hình thức, không bao giờ dừng lại cho đến khi nào chế độ bạo tàn này sụp đổ. Cuộc bỏ phiếu bằng chân liên tục diễn ra hơn 4 thập niên qua đã cho thấy bản chất của chế độ cộng sản không bao giờ thay đổi: độc Đảng cai trị thì chỉ toàn là cướp bóc, tham nhũng có hệ thống, hành xử vô pháp, vô nhân, tàn bạo với người dân.

Một chế độ thối nát như vậy làm sao giành được sự ủng hộ của dân? Thực tế chỉ thấy sự bất mãn ngày càng gia tăng, ngay cả trong khối cán bộ, đảng viên.

Hơn 40 năm qua, CSVN đã phải đối diện với những làn sóng chống đối liên tục, từ công khai đến ngấm ngầm trên mọi lãnh vực. Những cuộc đấu tranh tự phát đã bộc phát khắp nơi từ sự đứng dậy của nông dân Thái Bình, của bà con tiểu thương Hà Nội, Sài Gòn, bà con Đồng Tâm, Thủ Thiêm, vườn rau Lộc Hưng, bà con nạn nhân của Formosa…

Nhìn cho kỹ, một chế độ luôn khoe khoang là “dân chủ gấp vạn lần tư bản” có khác gì Con Buôn Dân Chủ, luôn ra rả tuyên truyền và lợi dụng 2 chữ Dân chủ theo pháp luật nước CHXHCNVN để đổi lấy những đàm phán kinh tế, viện trợ quốc tế, để nuôi bộ máy cầm quyền, cai trị được lâu hơn.

“Thiên đàng chủ nghĩa” càng ngày càng nhiều tù nhân lương tâm, nhiều người di tản hoặc bị trục xuất khỏi quê hương một cách âm thầm trong sự xót xa, đầy tủi nhục vì bị CSVN xếp vào hàng “bè lũ phản động”.

Tháng 4 lại về, nỗi buồn thời cuộc tuy còn đó nhưng niềm vui chung, niềm khát khao về một nước Việt Nam Dân chủ – Tự do, chưa lúc nào lại hiển hiện mạnh mẽ như ngày nay. Đã xuất hiện hàng hàng lớp lớp những người con ưu tú, đầy nhiệt huyết, can trường, vượt qua nỗi sợ hãi, đứng lên đấu tranh chống độc tài, bất công, tham nhũng.

Họ là những thanh niên sinh viên, bà con nông dân, bà con ngư dân, những người lao động bị bóc lột… đang mạnh mẽ lên tiếng đòi lại Nhân phẩm và tất cả những Quyền cơ bản của con người đang bị đảng CSVN chà đạp một cách trắng trợn trên quê hương Việt Nam.

Tưởng niệm tháng 4 đen năm nay, chúng ta cần có một tinh thần khác. Đó là tinh thần chuẩn bị cho ngày quật khởi vào tháng 4 năm 2020, để toàn thể dân tộc không còn thảm kịch “triệu người vui lẫn triệu người buồn” mà sẽ cùng nắm tay nhau, đẩy lùi ngày 30 tháng 4 vào quá khứ.

Đánh dấu 45 năm cả nước chìm đắm trong ngục tù tối tăm của chủ nghĩa phi nhân và phi dân tộc, 30 tháng 4, 2020 sẽ khởi đầu một kỷ nguyên Dân chủ, Tự do, Hòa bình và Thịnh vượng để Việt Nam có một tương lai hoàn toàn tốt đẹp khi dân số đạt mức 100 triệu.

Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print

BÀI MỚI

Biểu tình chống Dự luật Đặc khu tại Sài Gòn hôm 10/6/2018. Ảnh: VNTB

Biểu tình: Một quyền chính trị quan trọng bị cấm kỵ

Xuyên suốt lịch sử lập hiến của Việt Nam, quyền hội họp và biểu tình luôn được ghi nhận trong các bản Hiến pháp năm 1959 tại Điều 25, Hiến pháp 1980 tại Điều 67, và Hiến pháp 1992 tại Điều 69. Tuy nhiên,  thực tế lịch sử lại không như vậy.

Cho đến nay, Điều 25 của Hiến pháp 2013 vẫn khẳng định công dân có quyền tự do ngôn luận, báo chí, hội họp và biểu tình. Thế nhưng, quyền biểu tình và hội họp vẫn bị treo vô thời hạn!

Ảnh minh họa: Internet

Phát triển và thu hút nhân tài từ nhỏ – trong nước nói, nước ngoài làm

Trong khi Việt Nam vẫn đang hô hào “trọng dụng nhân tài” ở mọi cấp độ, các quốc gia khác đã âm thầm thu hút nguồn lực xuất sắc của chúng ta từ lúc các em còn ngồi trên ghế lớp 8, lớp 9.

Không phải ngẫu nhiên mà Singapore triển khai hai chương trình học bổng lớn – ASEAN Scholarship và A*STAR Scholarship – nhắm trực tiếp vào học sinh Việt Nam từ độ tuổi 14–16.

Ông Tô Lâm phát biểu tại Diễn đàn Đối thoại Shangri-La, Singapore hôm thứ Sáu 29/5/2026. Ảnh: Reuters

Tô Lâm: Ngoại giao một đằng, nội trị một nẻo?

Đó là nghịch lý lớn nhất của đời sống chính trị Việt Nam hiện nay. Đối ngoại thì nói ngôn ngữ của đối thoại, nhưng đối nội lại vận hành bằng ngôn ngữ của kiểm soát. Đối ngoại thì kêu gọi tôn trọng khác biệt, nhưng đối nội lại rất ít chỗ cho những tiếng nói khác biệt. Đối ngoại thì nói về hòa bình, nhưng đối nội lại duy trì một không khí khiến nhiều người e ngại khi bày tỏ quan điểm của mình về những vấn đề hệ trọng của đất nước.

Ảnh minh họa: Mạc Đĩnh Chi đi sứ sang Tàu

Mạc Đĩnh Chi – Nhà ngoại giao hay thi sĩ

Khi sứ đoàn Đại Việt chuẩn bị hồi hương, triều đình nhà Nguyên báo tin một công chúa được vua hết mực yêu thương vừa qua đời. Mạc Đĩnh Chi lại được triệu vào để đọc điếu văn cho công chúa. Theo lời truyền đạt, Mạc Đĩnh Chi sẽ được giao cho một bài điếu văn đã được viết sẵn. Tuy nhiên, khi mở trang giấy, trước mắt ông chỉ có duy nhất một chữ: “Nhất”!

Chỉ sau một thoáng lặng im, Trạng nguyên Mạc Đĩnh Chi đã xuất thần đọc một bài điếu…