Khi công lý bị đánh tráo: Khoảng cách giữa quyền lực và nỗi đau người dân mất đất

Ảnh minh họa
Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print
Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print

Pháp luật sinh ra để bảo vệ con người, chứ không phải để bảo vệ quyền lực

Những ngày gần đây, thông tin về việc một số cựu quan chức cấp cao được ra tù sớm (một cách lén lút) đã khiến dư luận không khỏi bàng hoàng (1). Nhiều người cảm thấy chênh vênh khi chứng kiến cảnh những người từng nắm quyền lực được hưởng sự khoan hồng đặc biệt, trong khi những người dân nghèo, nông dân mất đất – những người chỉ dám lên tiếng đòi quyền lợi hợp pháp – lại tiếp tục bị giam cầm trong bản án dài dằng dặc.

Sự tương phản nói trên không chỉ là một sự kiện pháp lý; nó là vết nứt lớn đối với niềm tin vào công lý, là nỗi đau đứt ruột mà cả xã hội cần phải đối diện: Pháp luật có đang được thực thi công bằng cho mọi công dân? (2) 

1. Pháp luật chỉ có ý nghĩa khi được áp dụng bình đẳng

Theo quy định hiện hành, để được xét giảm án hay tha tù trước thời hạn, phạm nhân phải đáp ứng một số điều kiện nhất định: Chấp hành tốt nội quy trại giam, thể hiện thái độ ăn năn hối cải và đã thụ án ít nhất một phần ba thời gian. Đó là nguyên tắc chung, mang tính ràng buộc pháp lý.

Thế nhưng, Bí thư Thành ủy Sài Gòn Đinh La Thăng bị bắt ngày 8/12/2017 và bị tuyên phải chấp hành hình phạt tất cả là 30 năm tù; còn Chủ tịch TP Hà Nội Nguyễn Đức Chung (xú danh là “Chung con”) bị bắt ngày 28/8/2020 và lĩnh án 13,5 năm tù giam. “Chung con” thì suýt soát, còn “Thăng nổ” tính đến thời điểm hiện nay, chưa thụ án đủ 1/3 thời gian quy định (3).

Có thể có trường hợp giảm án hay ra tù sớm dù chưa đạt đủ điều kiện thời gian, nếu vì lý do sức khỏe hay nhân đạo, công chúng hoàn toàn có thể đồng cảm. Nhưng lén lút cho ra tù, và sự im lặng của cơ quan chức năng do lệnh trên trước thắc mắc của dư luận lại khiến niềm tin của công chúng thêm lung lay. Bởi lẽ, công lý không thể vận hành trong bóng tối; nó cần ánh sáng của minh bạch và giải trình.

Bởi vì, cũng trong cùng hệ thống tư pháp ấy, nhiều người dân – đặc biệt là những người khiếu kiện đất đai, đấu tranh vì quyền lợi tập thể – lại đang thụ án nặng nề. Gia đình bà Cấn Thị Thêu và hai con trai Trịnh Bá Phương, Trịnh Bá Tư là một trong những ví dụ điển hình: Ba thành viên của cùng một gia đình đang bị giam giữ vì dám cất tiếng nói trước các bất cập trong chính sách thu hồi đất (4).

công lý không thể vận hành trong bóng tối; nó cần ánh sáng của minh bạch và giải trình.

Trịnh Bá Phương không dùng bạo lực, không kích động hận thù; chỉ cất tiếng nói, thậm chí khẩu hiệu “Đả đảo ĐCS” tìm thấy trong góc đựng quần áo tù nhân cũng không phải do anh viết. Nhưng rồi cái giá phải trả cho những tiếng nói ấy là án tù chống chất án tù – 21 năm đối với Trịnh Bá Phương (5).

2. Khi sự im lặng được ưu ái còn trực ngôn bị trừng phạt

Một nền pháp quyền khỏe mạnh không chỉ đo bằng số lượng án phạt, mà bằng khả năng bảo vệ người yếu thế trước sự lạm dụng quyền lực. Khi quan chức sai phạm được tha sớm trong lặng lẽ, còn người dân phản biện bị tăng án trong ồn ào, người ta không thể không đặt câu hỏi: Phải chăng sự nhân đạo đang được dành chọn lọc, và sự nghiêm khắc lại chỉ áp dụng cho những người không có quyền lực?

Nhiều chuyên gia pháp lý cho rằng: Nếu việc ân giảm được sử dụng mà không có tiêu chí công khai, nó dễ trở thành công cụ chính trị hơn là một biện pháp nhân đạo. Trong mắt người dân, việc “tha tù sớm” cho những người từng ở thượng tầng quyền lực – nếu không được giải thích thỏa đáng – chẳng khác nào một cách “rửa tay” hoặc “phủi trách nhiệm” cho quá khứ, trong khi những người nghèo vẫn phải chịu đựng trọn bản án.

Còn việc tăng án, xử nặng hoặc bắt bớ những người dân khiếu kiện có thể bị nhìn nhận như một hình thức răn đe xã hội, gửi thông điệp rằng mọi tiếng nói trái chiều đều phải câm lặng (6).

Đó là điều nguy hiểm. Vì sợ hãi không bao giờ là nền tảng của ổn định. Một xã hội không thể yên bình khi công dân cảm thấy mình bị bịt miệng và không được lắng nghe.

Sợ hãi không bao giờ là nền tảng của ổn định.

3. Nỗi đau âm thầm của người dân mất đất

Đất với người nông dân Việt Nam không chỉ là tài sản, mà còn là cội nguồn sinh kế và danh dự gia đình.

Khi đất bị thu hồi với giá bồi thường thấp hơn giá trị thực, khi các dự án tái định cư chậm trễ hoặc không đủ điều kiện sống, người dân mất không chỉ là ruộng vườn, mà là niềm tin rằng họ được tôn trọng.

Ở nhiều vùng nông thôn, những vụ thu hồi đất diễn ra với cùng một kịch bản: Thông báo, ép bàn giao, phản đối, và sau đó là những vụ kiện, khiếu nại kéo dài. Không ít người bị coi là “chống đối,” bị bắt giữ, bị khởi tố. Trong khi đó, các dự án mọc lên trên mảnh đất ấy vẫn được triển khai, nhiều khi phục vụ lợi ích nhóm hoặc nhà đầu tư thân hữu.

Người nông dân, vốn ít học, yếu thế, không có tiếng nói trong truyền thông, dần trở thành nạn nhân của hai tầng áp lực: Kinh tế và pháp lý. Họ mất nhà, mất đất, rồi mất cả quyền lên tiếng.

4. Khi công lý nghiêng lệch, lòng dân rạn nứt

Không phải ngẫu nhiên mà nhiều nhà nghiên cứu cho rằng “sự công bằng” chính là thước đo của ổn định xã hội.

Khi người dân cảm thấy hệ thống tư pháp chỉ khoan hồng với người từng có chức quyền, còn nghiêm khắc với dân thường, họ sẽ không còn tin vào pháp luật nữa. Và khi niềm tin vào pháp luật suy giảm, mọi thứ khác – từ chính trị, đạo đức đến trật tự xã hội – đều rúng động theo, dù bàn tay sát máu của người đứng đầu có được “bọc nhung” bao nhiêu .

Trong bối cảnh đó, việc ân giảm tù cho những nhân vật từng nắm quyền mà không minh bạch có thể bị hiểu như một nỗ lực đánh lạc hướng trách nhiệm, hoặc “đổ tội” cho người đã qua đời, để thoát khỏi sức ép dư luận. Còn việc tăng án đối với người dân phản biện – nếu không được chứng minh rõ ràng về yếu tố pháp lý – chỉ càng khiến xã hội nghi ngờ rằng pháp luật đang bị sử dụng như công cụ trừng phạt hơn là công cụ bảo vệ công lý.

5. Đòi hỏi minh bạch – không phải chống đối, mà là giữ lấy niềm tin

Đòi hỏi công lý không có nghĩa là chống lại nhà nước!

Chính quyền cố tình đàn áp, trả thù một thanh niên nông dân lương thiện chất phác – đã không chịu khuất phục cường quyền – bằng một mẩu giấy, viết tay nguệch ngoạc với dòng chữ “đả đảo cộng sản,” mà họ cho rằng đã tìm thấy trong tủ quần áo tù nhân. Chỉ với một mẩu giấy làm chứng cứ trước toà, không giám định chữ viết, không có luật sư, mà quan toà tuyên mức án 11 năm tù. Niềm tin vào công lý đã sụp đổ từ lâu chứ không chỉ ở vụ án này! (7)

Tại nhiều quốc gia, một chính quyền mạnh mẽ là chính quyền dám đối thoại và dám minh bạch. Mỗi quyết định tha tù, giảm án hay tăng án đều cần được công bố công khai, với căn cứ pháp lý rõ ràng, vì đó là quyền được biết của người dân – những người đang đóng thuế nuôi bộ máy tư pháp.

Cũng vậy, chính sách đất đai cần được cải cách để đảm bảo người dân có thể sinh sống ổn định sau khi bị thu hồi đất. Các cơ quan chức năng cần mở rộng kênh đối thoại, tiếp nhận ý kiến của cộng đồng bị ảnh hưởng, thay vì để họ đi tìm công lý trong tuyệt vọng.

Chúng ta không thể nói về hòa bình nếu người dân vẫn bị còng tay chỉ vì nói lên sự thật. Không thể nói về “pháp quyền xã hội chủ nghĩa” nếu pháp luật trở thành bức tường ngăn cách giữa dân và quyền lực thì niềm tin của người dân sẽ chìm sâu hơn cả dòng nước đang bao phủ cả Hà Nội những ngày này.

Lời kết: Công lý là hơi thở của xã hội

Công lý không phải khái niệm xa vời. Nó hiện diện trong từng quyết định hành chính, từng bản án, từng cách ứng xử giữa người với người. Khi người dân yếu thế cảm thấy được lắng nghe và đối xử công bằng, đó là lúc pháp luật thực sự có linh hồn.

Nhưng nếu người dân bị đẩy vào lao tù vì lên tiếng cho công lý, còn người có quyền lực được tha thứ trong im lặng – thì pháp luật chỉ còn là chiếc vỏ rỗng ruột, mất đi ý nghĩa ban đầu của nó.

Đòi hỏi công lý không phải là chống lại ai, mà là giữ lấy phẩm giá con người. Giữ lấy niềm tin rằng, dù có khác biệt về thân phận, địa vị, hay tiếng nói, thì mọi công dân đều xứng đáng được pháp luật đối xử như nhau.

Chính báo chí quốc doanh, thảng hoặc cũng buộc phải thừa nhân, đất nước chỉ thật sự lớn mạnh khi người dân của nó không còn phải sợ hãi khi vì sự thật và để bảo vệ sự thật (8).

Hoàng Thuyên

Chú thích:

(1, 3) https://www.youtube.com/watch?v=ENKpDvLFiuk (Nguyễn Đức Chung ra tù, ân huệ cuối cùng của Tô Tổng cho đối thủ?)

(2) https://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/vietnamese-justice-through-the-sentences-12202019134823.html (Công lý nước Việt qua các mức án!)

(4) https://machsongmedia.org/all/doi-song/phu-nu/tot-cung-cua-su-khac-kho-cau-chuyen-nhung-phu-nu-trong-gia-dinh-ba-can-thi-theu.html

(5) https://baotiengdan.com/2025/10/02/don-khieu-nai-khan-cap/

(6) https://baotiengdan.com/2025/09/30/ky-nguyen-vuon-minh-cua-tu-nhan-luong-tam/

(7) https://www.nguoi-viet.com/tin-chinh/trinh-ba-phuong-khong-phai-nguoi-viet-khau-hieu-o-trong-tu/

(8) https://laodong.vn/su-kien-binh-luan/tieng-noi-su-that-cua-bao-chi-gop-phan-thuc-day-tien-bo-xa-hoi-1207394.ldo

 

Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print

BÀI MỚI

Sách "Chuyện với Thanh" và tác giả Nguyễn Thành Nam

Xã hội sẽ “tử tế” kiểu gì khi “hoàn lưu” những cuộc đấu tố trở lại?

Gieo nỗi sợ, người ta sẽ gặt được sự giả dối. Gieo đấu tố, người ta sẽ gặt sự phản trắc. Gieo thói quen kết tội người khác để bảo vệ mình, người ta sẽ tạo ra một xã hội trong đó không ai thực sự bảo vệ ai. Đến một ngày nào đó, khi chính quyền cần sự dấn thân, lòng can đảm và tinh thần trách nhiệm của công dân, điều họ nhận lại có thể chỉ là những khuôn mặt im lặng, những lời nói theo mẫu và một xã hội đã rút hết sinh khí vào bên trong.

Cuốn sách "Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng" bị thu hồi và tiêu hủy. Ảnh: Nhà xuất bản Hội Nhà Vă

Vụ Nguyễn Thành Nam và màn kịch bệnh hoạn của cả một xã hội

Càng theo dõi diễn biến của vụ việc Nguyễn Thành Nam, người ta càng nhận ra đây không phải là một vụ án “thông thường.” Điều khiến nó trở nên đặc biệt không nằm ở điều luật được áp dụng, mà nằm ở chính con người bị áp dụng điều luật ấy.

Bởi lần đầu tiên trong nhiều thập niên, một người từng công khai giảng dạy môn Tư tưởng Hồ Chí Minh, viết sách với mong muốn làm cho người trẻ hiểu và yêu Hồ Chí Minh hơn, lại bị cáo buộc là người “tuyên truyền chống Nhà nước.”

Ông Tô Lâm phát biểu tại Hội nghị Sơ kết 1 năm vận hành cơ chế mới tổ chức vào ngày 1 tháng 7, 2026. Ảnh chụp từ trang mạng Thể Thao & Văn Hóa

Điểm nghẽn của chế độ Tô Lâm

Điểm nghẽn lớn nhất của Việt Nam hôm nay không còn chỉ là thể chế hay năng lực thực thi. Điểm nghẽn sâu xa hơn là mục tiêu phát triển.

Một quốc gia sẽ đi theo đúng mục tiêu mà nó lựa chọn. Nếu mục tiêu cao nhất là duy trì quyền lực, thì mọi chính sách cuối cùng sẽ phục vụ cho việc bảo vệ quyền lực. Nhưng nếu mục tiêu cao nhất là con người và dân tộc Việt Nam, thì toàn bộ hệ thống chính trị, giáo dục, kinh tế và văn hóa sẽ phải được tổ chức lại để khai mở tiềm năng của con người.

Thủ đô Seoul của Hàn Quốc. Quốc gia này là một trong số những ví dụ thành công về việc thoát khỏi “bẫy thu nhập trung bình.” Ảnh: Gije Cho - Pexels

Bẫy thu nhập trung bình

Cái bẫy này người ta gọi là Bẫy thu nhập trung bình, thuật ngữ do hai nhà kinh tế Indermit Gill và Homi Kharas đặt ra năm 2007, khi họ đang nghiên cứu chiến lược phát triển cho các nước Đông Á.

Ý tưởng cốt lõi thì đơn giản thôi: Một quốc gia nghèo có thể tăng trưởng khá nhanh nhờ mấy lợi thế có sẵn, tài nguyên, nhân công rẻ, hay viện trợ nước ngoài. Nhưng đến một ngưỡng nào đó, mọi thứ chững lại. Lương tăng lên rồi, thế là mất luôn lợi thế “rẻ.”