Lạm bàn về chuyện chống ngập và chống bão

Việt Nam từng là một "quốc gia rừng," hiện đang đối mặt với khủng hoảng sinh thái nghiêm trọng. Lũ lụt hoành hành khắp nơi, đặc biệt miền Bắc và miền Trung. Trong ảnh: Đường Hùng Vương, Huế bị ngập lụt hôm 30/10/2025. Ảnh: FB BửuNam NguyễnPhước
Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print
Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print

TS Tô Văn Trường

Một số bạn đọc hỏi tôi bình luận gì về phát biểu của Thứ trưởng Phùng Đức Tiến trả lời báo chí về chương trình chống ngập lụt đăng trên báo Lao Động?

Ông Tiến là thứ trưởng, am hiểu sâu về nông nghiệp, chăn nuôi, thủy sản cho nên khi bàn về ngập lụt toàn quốc có góc nhìn hạn chế là điều dễ hiểu. Cách tiếp cận của ông vẫn nghiêng nhiều về góc độ kỹ thuật thủy lợi, trong khi vấn đề thực chất lại đa ngành, đa nguyên nhân, và cần một cái nhìn tổng thể về quản lý đô thị, quy hoạch đất đai, và biến đổi khí hậu.

Ngập lụt ở Việt Nam ngày nay không chỉ đến từ “mưa lớn” hay “lũ thượng nguồn” như cách mô tả truyền thống. Tại các đô thị, nguyên nhân chính lại nằm ở quy hoạch thiếu tầm nhìn, bê tông hóa tràn lan, san lấp ao hồ, hệ thống thoát nước cũ kỹ và bị lấn chiếm. Ngay cả vùng nông thôn – nơi từng được coi là “vùng trũng tự nhiên điều tiết nước” cũng đang bị thu hẹp bởi các khu công nghiệp và khu dân cư mọc lên thiếu kiểm soát.

Do đó, khi người đứng đầu ngành nông nghiệp nói về ngập lụt mà không nhắc đến vai trò của Bộ Xây dựng, Bộ Tài nguyên – Môi trường, Bộ Giao thông – Vận tải và chính quyền đô thị, thì bài toán bị nhìn lệch.

Chống ngập không thể chỉ là “đắp đê, xây cống, làm trạm bơm,” mà phải là quản trị không gian nước, tái thiết đô thị thích ứng khí hậu, và thay đổi mô hình phát triển.

Bên cạnh đó, thiên tai hiện nay đã biến đổi thành “rủi ro kép” vừa tự nhiên vừa do con người gây ra. Lũ ở miền Trung không chỉ vì mưa cực đoan mà còn do phá rừng, hồ chứa vận hành thiếu đồng bộ. Ngập ở vùng đồng bằng sông Cửu Long hay còn gọi là ‘miền Tây’ không chỉ vì nước từ thượng nguồn sông Mekong qua Campuchia chảy về mà những năm gần đây ảnh hưởng do triều cường, nước biển dâng, hạ thấp lòng dẫn và đất lún là nguyên nhân quan trọng. Ngoài ra còn có các nguyên nhân khác như do hạ tầng giao thông, đê bao khép kín làm mất khả năng trữ nước tự nhiên của đồng bằng.

Vì vậy, hội nghị toàn quốc mà Bộ Nông nghiệp và Môi trường sắp tổ chức nên được xem là diễn đàn liên ngành, có sự tham gia của các bộ, ngành, chuyên gia khí tượng thủy văn, quy hoạch đô thị, môi trường, năng lượng… hơn là chỉ trong phạm vi nông nghiệp.

Nếu chỉ dừng ở việc tổng kết thiệt hại, nêu nguyên nhân và tiếp tục “đề án – dự án – quy hoạch,” mà chưa chỉ rõ căn nguyên sâu xa của ngập lụt nằm trong tư duy phát triển, thì chúng ta sẽ vẫn loay hoay “chống ngập” mà không bao giờ “thoát ngập.”

Nói cách khác, chống ngập không thể chỉ là chuyện của Bộ Nông nghiệp – mà phải là chuyện của cả Chính phủ, của từng đô thị, từng người dân, và của tầm nhìn phát triển quốc gia trong kỷ nguyên khí hậu cực đoan.

Đã đến lúc nhìn khác về bão và cả về cơ quan phòng chống bão

Từ nhiều thập kỷ nay, chúng ta vẫn gọi tên cơ quan trung ương chịu trách nhiệm quản lý thiên tai là Ban Chỉ đạo Quốc gia về Phòng, Chống thiên tai – tiền thân là Ban phòng chống lụt bão Trung ương.

Tên gọi ấy phản ánh một tư duy quen thuộc: Thiên tai là kẻ thù, còn nhiệm vụ của con người là chống lại.

Nhưng trong bối cảnh khí hậu toàn cầu biến đổi sâu sắc, cách nhìn ấy đã trở nên lỗi thời. Bởi không thể “chống” lại tự nhiên – chỉ có thể hiểu đúng và thích ứng thông minh với nó.

Bão – không phải kẻ thù của Trái Đất

Nếu Trái Đất không có bão, hành tinh này sẽ nóng hơn, khô hơn, không khí bẩn hơn, cá biển ít hơn, mưa trái mùa nhiều hơn và thiên tai khác còn khốc liệt hơn.

Nói cách khác: Không có bão, Trái Đất sẽ nguy hiểm hơn rất nhiều.

Bão là một cơ chế điều hòa nhiệt tự nhiên.

Khi mặt biển hấp thụ quá nhiều năng lượng từ Mặt Trời, bão sinh ra để hút lượng nhiệt khổng lồ ấy lên cao, phân tán vào khí quyển và làm mát lại đại dương.

Chỉ một cơn bão lớn có thể giảm nhiệt độ mặt biển từ 0,5 đến 2 độ C – một tác dụng cân bằng cực kỳ quan trọng đối với hệ khí hậu toàn cầu. Nếu không có những “chiếc quạt tự nhiên” ấy, đại dương sẽ “sốt cao,” khí quyển mất ổn định, và nắng nóng cực đoan sẽ xảy ra với tần suất khủng khiếp hơn.

Tự nhiên vận hành theo quy luật, con người phải thay đổi tư duy.

Từ xưa, con người chỉ nhìn thấy mặt phá hoại của bão – nhà sập, đê vỡ, tàu chìm – nên gọi nó là “thiên tai.” Nhưng với góc nhìn của khoa học hiện đại, bão là một thành phần trong chu trình năng lượng của Trái Đất, là “máy bơm nhiệt” đưa hơi ẩm và năng lượng từ xích đạo lên hai cực, giúp khí hậu toàn cầu bớt chênh lệch.

Cũng nhờ bão, nhiều vùng khô hạn có được lượng mưa tái tạo nguồn nước ngọt; không khí sau bão trở nên trong lành hơn khi bụi mịn bị cuốn đi; và đại dương được khuấy trộn, đưa dòng nước lạnh và dinh dưỡng từ tầng sâu lên, giúp hệ sinh thái biển phục hồi.

Thế nhưng, chính con người – vì chặt rừng, bê tông hóa sông ngòi, xây dựng tràn lan ven biển – đã làm đứt gãy cơ chế tự bảo vệ tự nhiên.

Chúng ta tự dấn thân vào vùng nguy hiểm, rồi gọi bão là “thảm họa”

Thực ra, thảm họa không nằm trong cơn bão, mà nằm trong cách con người đối xử với thiên nhiên.

Cần một cách tiếp cận mới: Từ “chống” sang “quản trị rủi ro,” bởi vì năng lượng của một cơn bão cực kỳ lớn, tương đương với nhiều quả bom nguyên tử mà Mỹ ném xuống Nhật Bản trong Chiến tranh Thế giới thứ II, mà con người không thể “chống” lại được.

Cái tên Ban phòng chống lụt bão được hình thành từ thời bao cấp, khi đất nước còn nghèo, khả năng dự báo – ứng phó còn hạn chế, nên “chống” là tất yếu.

Nhưng giờ đây, khi Việt Nam đã là một quốc gia có năng lực khoa học – kỹ thuật đủ mạnh, đã đến lúc tư duy “phòng – chống” phải chuyển sang “hiểu – phòng tránh – thích ứng – quản trị rủi ro.”

Chúng ta không thể ngăn bão đến, nhưng hoàn toàn có thể giảm thiểu thiệt hại bằng quy hoạch không gian hợp lý, bảo vệ rừng đầu nguồn, củng cố hệ thống đê điều, đầu tư công nghệ dự báo sớm, và đặc biệt là giáo dục cộng đồng về cách phòng tránh, đảm bảo an toàn trước những thảm hoạ khí hậu. Trong đó, đặc biệt quan trọng là giám sát thực hiện đúng quy hoạch, tránh tình trạng thay đổi quy hoạch vì mục đích khác làm phá vỡ quy hoạch ban đầu đã tính đến khả năng tiêu thoát lũ và phòng tránh lũ cực đoan.

Thay vì “chống bão,” ta cần “sống cùng bão” – như người Nhật đã làm, người Philippines đang làm: Xây  nhà phù hợp, bảo hiểm thiên tai toàn dân, và biến việc thích ứng thành năng lực sống của quốc gia.

Khi khoa học trở thành nền tảng của quản trị thiên tai

Thế giới hiện đại không còn coi bão là kẻ thù, mà là một hiện tượng tự nhiên cần được hiểu sâu, giám sát liên tục, và dự báo chính xác.

Từ Mỹ đến Nhật, từ Hàn Quốc đến châu Âu, cơ quan quản lý thiên tai đều mang tên “Trung tâm quản lý rủi ro khí hậu” hay “Cơ quan thích ứng với biến đổi khí hậu,” không còn dùng chữ “chống.”

Việt Nam đã có đội ngũ khoa học khí tượng thủy văn giỏi, có năng lực dự báo bão sớm tới 7-10 ngày (dự báo hạn vừa), thậm chí dài hơn, từ 10 – 45 ngày (dự báo nội mùa), 1 đến 12 tháng (dự báo mùa), có hệ thống vệ tinh và radar hiện đại.

Vấn đề còn lại là đổi cách tổ chức và nhận thức: Từ phản ứng bị động sang chủ động kiểm soát rủi ro.

Chúng ta cần một cơ quan thống nhất, đủ quyền lực, đủ dữ liệu, đủ nhân lực chuyên môn, để kết nối giữa dự báo – quy hoạch – hành động, thay vì tách rời như hiện nay.

Tên gọi không chỉ là hình thức

Tên gọi “Ban phòng chống lụt bão Trung ương” từng phù hợp trong thời kỳ cũ, nhưng nay, nó không còn phản ánh đúng tầm của một quốc gia hướng tới phát triển bền vững và thích ứng khí hậu.

Cũng như khi ta đổi “Ủy ban Kế hoạch Nhà nước” thành “Bộ Kế hoạch và Đầu tư,” đổi “Ủy ban Vật giá” thành “Cục Quản lý giá” – đó không chỉ là chuyện tên, mà là chuyển đổi tư duy quản lý.

Vì vậy, đã đến lúc xem xét đổi tên và đổi cách hoạt động của Ban chỉ đạo phòng chống thiên tai, hướng tới một “Cơ quan Quản lý và Thích ứng với Biến đổi khí hậu quốc gia” – nơi không chỉ “chống” mà còn “dự báo, thích ứng và tái thiết thông minh sau thiên tai.”

Kết luận

Bão không sinh ra để hủy diệt Trái Đất.

Nó là nhịp thở của hành tinh, là cách tự nhiên điều hòa nhiệt, cân bằng năng lượng và duy trì sự sống.

Chúng ta không thể ra lệnh cho tự nhiên, nhưng có thể học cách sống hài hòa với nó, tôn trọng quy luật của nó và dựa vào khoa học để giảm rủi ro.

Khi tư duy “chống” được thay bằng tư duy “thích ứng,” khi mỗi người dân hiểu rằng thiên nhiên không phải kẻ thù, thì đó cũng là lúc quản trị thiên tai của Việt Nam bước sang một kỷ nguyên mới – kỷ nguyên của hiểu biết, hợp tác và an toàn.

Tác giả gửi BVN

Nguồn: Bauxite Việt Nam

XEM THÊM:

 

 

Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print

BÀI MỚI

Sách "Chuyện với Thanh" và tác giả Nguyễn Thành Nam

Xã hội sẽ “tử tế” kiểu gì khi “hoàn lưu” những cuộc đấu tố trở lại?

Gieo nỗi sợ, người ta sẽ gặt được sự giả dối. Gieo đấu tố, người ta sẽ gặt sự phản trắc. Gieo thói quen kết tội người khác để bảo vệ mình, người ta sẽ tạo ra một xã hội trong đó không ai thực sự bảo vệ ai. Đến một ngày nào đó, khi chính quyền cần sự dấn thân, lòng can đảm và tinh thần trách nhiệm của công dân, điều họ nhận lại có thể chỉ là những khuôn mặt im lặng, những lời nói theo mẫu và một xã hội đã rút hết sinh khí vào bên trong.

Cuốn sách "Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng" bị thu hồi và tiêu hủy. Ảnh: Nhà xuất bản Hội Nhà Vă

Vụ Nguyễn Thành Nam và màn kịch bệnh hoạn của cả một xã hội

Càng theo dõi diễn biến của vụ việc Nguyễn Thành Nam, người ta càng nhận ra đây không phải là một vụ án “thông thường.” Điều khiến nó trở nên đặc biệt không nằm ở điều luật được áp dụng, mà nằm ở chính con người bị áp dụng điều luật ấy.

Bởi lần đầu tiên trong nhiều thập niên, một người từng công khai giảng dạy môn Tư tưởng Hồ Chí Minh, viết sách với mong muốn làm cho người trẻ hiểu và yêu Hồ Chí Minh hơn, lại bị cáo buộc là người “tuyên truyền chống Nhà nước.”

Ông Tô Lâm phát biểu tại Hội nghị Sơ kết 1 năm vận hành cơ chế mới tổ chức vào ngày 1 tháng 7, 2026. Ảnh chụp từ trang mạng Thể Thao & Văn Hóa

Điểm nghẽn của chế độ Tô Lâm

Điểm nghẽn lớn nhất của Việt Nam hôm nay không còn chỉ là thể chế hay năng lực thực thi. Điểm nghẽn sâu xa hơn là mục tiêu phát triển.

Một quốc gia sẽ đi theo đúng mục tiêu mà nó lựa chọn. Nếu mục tiêu cao nhất là duy trì quyền lực, thì mọi chính sách cuối cùng sẽ phục vụ cho việc bảo vệ quyền lực. Nhưng nếu mục tiêu cao nhất là con người và dân tộc Việt Nam, thì toàn bộ hệ thống chính trị, giáo dục, kinh tế và văn hóa sẽ phải được tổ chức lại để khai mở tiềm năng của con người.

Thủ đô Seoul của Hàn Quốc. Quốc gia này là một trong số những ví dụ thành công về việc thoát khỏi “bẫy thu nhập trung bình.” Ảnh: Gije Cho - Pexels

Bẫy thu nhập trung bình

Cái bẫy này người ta gọi là Bẫy thu nhập trung bình, thuật ngữ do hai nhà kinh tế Indermit Gill và Homi Kharas đặt ra năm 2007, khi họ đang nghiên cứu chiến lược phát triển cho các nước Đông Á.

Ý tưởng cốt lõi thì đơn giản thôi: Một quốc gia nghèo có thể tăng trưởng khá nhanh nhờ mấy lợi thế có sẵn, tài nguyên, nhân công rẻ, hay viện trợ nước ngoài. Nhưng đến một ngưỡng nào đó, mọi thứ chững lại. Lương tăng lên rồi, thế là mất luôn lợi thế “rẻ.”