Mấy ý nghĩ từ bài thơ Bắt nạt

Bài thơ "Bắt nạt" được đưa vào nội dung giảng dạy trong sách giáo khoa lớp 6. Ảnh: Dân Trí
Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print
Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print

Đây không phải lần đầu tiên bài thơ Bắt nạt trở thành chủ đề cho những phê phán, tranh cãi. Trước đó, năm 2021 nó từng nổi lên và ồn ào đối với một tác phẩm văn học bị cho là kém chất lượng nhưng lại được đưa vào sách giáo khoa. Tôi có mấy ý nghĩ thế này.

1. Chuyện hay dở của một bài thơ hay tác phẩm nghệ thuật nói chung là không dễ kết luận, có những thứ từng hay, có những thứ sẽ hay, và có cả những bài đang hay nhưng rồi sẽ sớm bị lãng quên. Và ngay cả những tác phẩm hay một cách lâu dài thì cái hay đó cũng cần phải xem nó hay về khía cạnh nào, ngôn ngữ, văn hóa, sự mới mẻ độc đáo hay ý thức xã hội – chính trị… Cho nên, tranh cãi về chuyện hay dở này rất khó để đi đến hồi kết.

Tôi không đánh giá cao bài thơ Bắt nạt về khía cạnh nghệ thuật, nhưng cũng không đến nỗi thấy nó như một “thảm họa” mà nhiều người đang nhận xét. Hơn nữa, ở một khía cạnh nào đó, như việc cảnh báo và giáo dục ý thức cho trẻ em trong mỗi quan hệ học đường, nó có tác dụng và ý nghĩa nhất định.

2. Sách giáo khoa lớp 6 tập Một, bộ Kết nối, có 8 tác phẩm thơ được đưa vào giảng dạy, trong đó có 2 tác giả mới chưa từng xuất hiện trong các bộ sách giáo khoa ngữ văn trước đây, là Nguyễn Thế Hoàng Linh và Mai Văn Phấn. Các tác giả, tác phẩm quen thuộc từ xưa như Nguyên Hồng, Xuân Quỳnh, Lâm Thị Mỹ Dạ, Ta-go, Ca dao…, dường như không nhận phải sự phản đối nào, nhưng cả 2 người mới đều ít nhiều đang hứng gạch đá. Đây cũng là một điều đáng suy nghĩ. Cái mới, chưa xét hay dở, thường thì khó tiếp nhận/ chấp nhận. Chính vì tâm lý rất đặc thù này mà tôi nghĩ, đối với những gì mới/ lạ, cần sự bình tĩnh và cẩn trọng nhiều hơn.

3. Việc đưa một tác phẩm vào sách giáo khoa để làm ngữ liệu cho việc đọc văn tất nhiên phải đáp ứng những tiêu chí nhiều mặt. Tuy nhiên cũng cần lưu ý, không nên mặc định nó là kinh điển/ kinh thánh để học thuộc lòng nhằm coi đó như là mục đích tối hậu của việc học môn Văn trong nhà trường; và càng không nên quên rằng nó chỉ là văn liệu để giúp học sinh biết đọc văn và rèn luyện những năng lực quan trọng khác như viết, nói, nghe…

Với tinh thần ấy, thậm chí có thể đưa một văn bản dở vào sách. Đọc để nhận biết cái hay là cần nhất nhưng biết nhận diện cái dở cũng quan trọng không kém. Văn thơ trong sách giáo khoa, theo tôi không phải chỉ để thưởng thức, mục đích quan trọng hơn của nó là giúp người học hình thành được các kỹ năng khi đối trước văn bản và sau đó là tạo lập văn bản.

Vài ba chục năm nữa chẳng hạn, khi “những tù nhân của sách giáo khoa” đã được phóng thích, có thể giáo viên Việt Nam cũng giống giáo viên ở nhiều nước tiên tiến, là có thể tự soạn lấy tài liệu mà dạy, và lúc ấy họ hoàn toàn có thể chọn lấy những tác phẩm mà mình cho là phù hợp với mục đích giáo dục các năng lực cho người học để đưa vào giảng dạy. Trong một hoàn cảnh như thế, thật khó để soi hết mọi tài liệu của hàng vạn giáo viên trên cả nước!

Xuất phát từ đặc trưng môn học (Ngữ văn), các tác phẩm được đưa vào sách giáo khoa vốn là văn liệu cho việc giúp học sinh hình thành và nâng cao năng lực sử dụng tiếng Việt như đã nói, cộng với mục đích giáo dục mang tính tích hợp, tôi nghĩ thay vì quá coi trọng giá trị nghệ thuật của mỗi tác phẩm thì nên chú ý nhiều hơn nữa đến vấn đề giáo dục mà bài thơ này đặt ra: nạn bắt nạt học đường. Có thể ngay lúc này, khi chúng ta đang mải chỉ trích bài thơ thì ở trường, con cái mình đang bị bắt nạt bởi các bạn!

Tôi dùng từ “nạn” chắc không ngoa đâu, tình trạng này đã trở nên quá phổ biến và nguy hại trầm trọng. Dạy con cái chúng ta biết tôn trọng, thương yêu và đồng cảm với bạn bè, đồng thời dạy cho chúng biết cách ứng xử trước những hành vi bắt nạt, đó là điều nên thường trực trong mỗi chúng ta.

Đọc một bài thơ dở (giả sử thế) không hẳn đã tai hại bằng việc bị bắt nạt hàng ngày ở trường. Nó để lại trong đưa trẻ những tổn thương và sự tàn phá ghê gớm mà chúng ta đôi lúc vì vô tâm mà đã để con cái đang phải lặng lẽ chịu đựng một mình. Đã có những em học sinh tự tử vì bị bắt nạt, phần nhiều hơn là sợ hãi, chán nản, trầm cảm, đau khổ… Đừng để các em đơn độc và bị bỏ rơi vì sự bận bịu của mỗi chúng ta.

4. Với tinh thần Một chương trình nhiều bộ sách, tôi không quá nặng nề về chuyện hay dở của một tác phẩm hoặc một vài hạt sạn trong sách giáo khoa. Trong cái nhìn của tôi, chất lượng giáo viên mới quyết định chất lượng giáo dục. Với một thầy thuốc giỏi, nọc rắn có thể cứu người; nhưng với một thầy thuốc tồi, sâm quý cũng có thể giết người. Dùng một văn liệu như thế nào, việc ấy quan trọng hơn bản thân cái văn liệu ấy. Tôi đã từng đưa những bài văn dở cho học sinh đọc và từ đó cùng nhau mổ xẻ, tìm ra các bài học…

Trong hoàn cảnh nền giáo dục Việt Nam hiện tại, điều quan trọng hơn nữa, với tôi, là môi trường giáo dục. Chính môi trường giáo dục mới quyết định giá trị nào sẽ được xây lên hoặc điều tồi tệ nào sẽ ngự trị. Những chuyện buông lỏng quản lý, sai lầm trong “hợp tác công-tư”, loạn thu, lách luật dạy thêm, tình trạng mất dân chủ, sự thô bạo và phản giáo dục trong cách hành xử của ban giám hiệu hay giáo viên, v.v., đang tàn phá nền giáo dục hiện nay. Và nó chính là cái mà chúng ta cần chung tay nhiều hơn nữa để “chấn hưng”.

Giả sử nếu có một bộ sách giáo khoa hoàn hảo nhưng nếu mang thả vào cái vũng lầy của môi trường giáo dục như nó đang là, thì rồi cũng sẽ bị làm hỏng hoặc ít tệ hơn thì cũng sẽ bị tê liệt, vô hiệu hóa. Tập trụng nhiều hơn, mạnh hơn, coi môi trường giáo dục là tâm điểm cho sự phê phán, góp ý, xây dựng, việc ấy mang lại nhiều ý nghĩa và ý nghĩa nền tảng hơn là sự chú mục vào những chi tiết trong một tài liệu dạy học.

Nguồn: FB Thái Hạo

XEM THÊM:

 

Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print

BÀI MỚI

Sách "Chuyện với Thanh" và tác giả Nguyễn Thành Nam

Xã hội sẽ “tử tế” kiểu gì khi “hoàn lưu” những cuộc đấu tố trở lại?

Gieo nỗi sợ, người ta sẽ gặt được sự giả dối. Gieo đấu tố, người ta sẽ gặt sự phản trắc. Gieo thói quen kết tội người khác để bảo vệ mình, người ta sẽ tạo ra một xã hội trong đó không ai thực sự bảo vệ ai. Đến một ngày nào đó, khi chính quyền cần sự dấn thân, lòng can đảm và tinh thần trách nhiệm của công dân, điều họ nhận lại có thể chỉ là những khuôn mặt im lặng, những lời nói theo mẫu và một xã hội đã rút hết sinh khí vào bên trong.

Cuốn sách "Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng" bị thu hồi và tiêu hủy. Ảnh: Nhà xuất bản Hội Nhà Vă

Vụ Nguyễn Thành Nam và màn kịch bệnh hoạn của cả một xã hội

Càng theo dõi diễn biến của vụ việc Nguyễn Thành Nam, người ta càng nhận ra đây không phải là một vụ án “thông thường.” Điều khiến nó trở nên đặc biệt không nằm ở điều luật được áp dụng, mà nằm ở chính con người bị áp dụng điều luật ấy.

Bởi lần đầu tiên trong nhiều thập niên, một người từng công khai giảng dạy môn Tư tưởng Hồ Chí Minh, viết sách với mong muốn làm cho người trẻ hiểu và yêu Hồ Chí Minh hơn, lại bị cáo buộc là người “tuyên truyền chống Nhà nước.”

Ông Tô Lâm phát biểu tại Hội nghị Sơ kết 1 năm vận hành cơ chế mới tổ chức vào ngày 1 tháng 7, 2026. Ảnh chụp từ trang mạng Thể Thao & Văn Hóa

Điểm nghẽn của chế độ Tô Lâm

Điểm nghẽn lớn nhất của Việt Nam hôm nay không còn chỉ là thể chế hay năng lực thực thi. Điểm nghẽn sâu xa hơn là mục tiêu phát triển.

Một quốc gia sẽ đi theo đúng mục tiêu mà nó lựa chọn. Nếu mục tiêu cao nhất là duy trì quyền lực, thì mọi chính sách cuối cùng sẽ phục vụ cho việc bảo vệ quyền lực. Nhưng nếu mục tiêu cao nhất là con người và dân tộc Việt Nam, thì toàn bộ hệ thống chính trị, giáo dục, kinh tế và văn hóa sẽ phải được tổ chức lại để khai mở tiềm năng của con người.

Thủ đô Seoul của Hàn Quốc. Quốc gia này là một trong số những ví dụ thành công về việc thoát khỏi “bẫy thu nhập trung bình.” Ảnh: Gije Cho - Pexels

Bẫy thu nhập trung bình

Cái bẫy này người ta gọi là Bẫy thu nhập trung bình, thuật ngữ do hai nhà kinh tế Indermit Gill và Homi Kharas đặt ra năm 2007, khi họ đang nghiên cứu chiến lược phát triển cho các nước Đông Á.

Ý tưởng cốt lõi thì đơn giản thôi: Một quốc gia nghèo có thể tăng trưởng khá nhanh nhờ mấy lợi thế có sẵn, tài nguyên, nhân công rẻ, hay viện trợ nước ngoài. Nhưng đến một ngưỡng nào đó, mọi thứ chững lại. Lương tăng lên rồi, thế là mất luôn lợi thế “rẻ.”