Nền kinh tế Việt Nam lún sâu vào phụ thuộc Trung Quốc

Kho nhôm của Công ty TNHH Nhôm Toàn Cầu tại Bà Rịa - Vũng Tàu, nơi 1,8 triệu tấn nhôm Trung Quốc đội lốt hàng Việt Nam trị giá 4,3 tỷ USD chờ xuất sang Mỹ bị phát giác. Ảnh: The Wall Street Journal (WSJ)
Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print
Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print

Thâm hụt thương mại đối với Trung Quốc là điều Việt Nam mặc nhiên công nhận hàng chục năm trong giao thương hai nước. Với một nền kinh tế quy mô nhỏ 200 tỷ đô-la hàng năm so với trên 1.700 tỷ của Trung Quốc (2006), Việt Nam đã nhập khẩu từ Trung Quốc khoảng 100 tỷ đô hàng năm và con số nhập siêu luôn ở con số trên 30 tỷ USD.

Vào cuối tháng Mười Một vừa qua, Tổng Cục Thống Kê Việt Nam loan báo “tin vui”: thặng dư mậu dịch trong 10 tháng năm 2019 tính từ đầu năm đạt kỷ lục 9 tỷ đô-la, lấy từ con số tổng trị giá xuất khẩu 219 tỷ và nhập khẩu 210 tỷ.

Thặng dư mậu dịch là điều đáng mừng trong tình cảnh nền kinh tế chưa tìm thấy lối đi sau hơn 30 năm dò dẫm trong kinh tế thị trường. Nhưng dường như các doanh nghiệp cũng như các nhà hoạch định chính sách cảm thấy không vui với con số 9 tỷ thặng dư này. Vì trong thực tế những mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam trong năm qua hầu hết là hàng sản xuất từ Trung Quốc, được trung chuyển sang Việt Nam rồi phù phép đội lốt hàng Việt Nam xuất khẩu sang Mỹ.

Điển hình như vụ khám phá 1,8 triệu tấn nhôm Trung Quốc nằm trong kho tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu chờ xuất sang Mỹ. Lô nhôm đội lốt hàng Việt Nam này trị giá 4,3 tỷ USD nếu trót lọt, con số thặng dư hẳn đã lớn hơn 9 tỷ. Nhưng dù 9 tỷ hay 10 tỷ thì chủ nhân của nó cũng chỉ là những doanh nghiệp tư nhân mới nổi lên sau này, đặc biệt là từ sau vụ thương chiến Mỹ-Trung bùng nổ. Mà chủ nhân những doanh nghiệp này không ai khác hơn những thành phần con ông cháu cha đang lao vào cuộc chiến bỏ túi đô-la hàng tỷ Mỹ kim, đàng sau sự che chở bằng quyền lực chính trị của các bậc cha mẹ trong đảng Cộng Sản Việt Nam.

Với vụ nhôm đội lốt, nếu ông Trump cho truy ra thế nào Việt Nam cũng lãnh đòn trừng phạt và đó là mối lo lớn nhất trong vụ thặng dư mậu dịch 9 tỷ đô-la năm 2019. Nằm trong lo ngại đó, ngày 8 tháng Mười Một vừa qua, Bộ Trưởng Thương Mại Hoa Kỳ Wilbur Ross lần đầu tiên lên tiếng một cách nhẹ nhàng trong chuyến viếng thăm Việt Nam “Chúng tôi quan ngại về thâm hụt thương mại 40 tỷ đô-la. Chúng tôi muốn làm việc với chính phủ Việt Nam để giảm mức thâm hụt thương mại này”. Khác với Tổng Thống Trump, hồi tháng Sáu, 2019 đã thẳng thừng cáo buộc Việt Nam là quốc gia “lợi dụng tồi tệ nhất” trong quan hệ thương mại với Hoa Kỳ. (VOA)

Nhập siêu với Trung Quốc nhưng xuất siêu với Hoa Kỳ, đây là tình trạng sinh ra từ việc “lợi dụng tồi tệ” như nói trên hay nói khác đi một sự bất bình đẳng mà Việt Nam cố tình làm ngơ. Chính phủ Việt Nam không phải không biết nhưng họ đã không làm gì trong một thời gian dài để sửa đổi tình trạng này.

Nếu trong chính trị, Việt Nam đã hoàn toàn lệ thuộc vào Bắc Kinh mọi mặt thì những sự kiện giao thương nói trên còn cho thấy một bức tranh ảm đạm khác là nền kinh tế Việt Nam ngày càng lún sâu vào Trung Quốc. Con số thống kê xuất khẩu 219 tỷ Mỹ Kim trong khi nhập khẩu lên đến 210 tỷ cho thấy gì? Đó là để có hàng xuất khẩu, Việt Nam đã phải nhập về rất nhiều thứ để gia công, ước lượng có đến 80% nhiên liệu, linh kiện nhập từ Trung Quốc tính cho đầu vào. Còn Việt Nam chỉ lo phần căn bản là điện nước, bao bì, các loại dịch vụ.

Như thế sự lệ thuộc của Việt Nam vào Trung Quốc không phải là sự kiện nhất thời mà nó đã kéo dài trong suốt thời kỳ gọi là đổi mới trong hơn 30 năm qua. Tình trạng lệ thuộc ấy có thể tiếp diễn mãi mãi về sau này vì bản chất của nền kinh tế Việt Nam hoàn toàn không có khả năng thay đổi như người ta từng thấy. Nó đã được hoạch định và điều hành bởi những thành phần cán bộ chưa vượt qua những bài học căn bản của kinh tế thị trường nhưng lại đặt nặng vào lợi ích cục bộ và những con số thống kê hào hứng. Đôi khi đó là những con số nguỵ tạo cho phù hợp với khẩu vị chính trị của chính phủ trong từng thời kỳ. Vì thế họ coi sự lệ thuộc vào linh kiện, hàng hoá của Trung Quốc là chuyện bình thường.

Trong lãnh vực xây dựng người ta còn nhìn thấy sự lệ thuộc nặng nề vào Trung Quốc khi Việt Nam vui vẻ sử dụng công nghệ lạc hậu, ô nhiễm đã bị chê ngay từ nước chủ nhà. Hầu hết 12 nhà máy đầu tư hàng trăm triệu Mỹ Kim của Bộ Công Thương Việt Nam đang thua lỗ hay trong tình trạng “đắp chiếu” đều có bóng dáng nhà thầu và công nghệ Trung Quốc. Nếu nói hiện nay Việt Nam “chỉ là bàn đạp, thậm chí là bãi rác cho nước khác để làm hàng xuất khẩu” như nhận định của nhiều người tưởng cũng không có gì quá đáng.

Một khi nền kinh tế của một quốc gia đứng hàng thứ hai trên thế giới ảnh hưởng quá lâu dài lên huyết mạch chính của sự sống còn nền sản xuất của kinh tế Việt Nam thì về phương diện chính trị, sự lệ thuộc vào Bắc Kinh lại càng nặng nề. Trói buộc kinh tế càng gia tăng, lệ thuộc chính trị càng chồng chất là hệ quả tất yếu. Vậy làm sao lãnh đạo Việt Nam dám nghĩ đến chuyện “thoát Trung”, hay nhẹ hơn là dám có tiếng nói mạnh mẽ chống lại những hành vi bành trướng ngang ngược của Trung Quốc trên Biển Đông?

Do đó, với sự quy phục về kinh tế và chính trị của lãnh đạo CSVN, một thời kỳ Bắc thuộc mới đã trở nên nhãn tiền. Và chắc chắn tai hoạ ấy sẽ làm tiêu hao rất nhiều xương máu dân tộc trong công cuộc đấu tranh thoát ách nô lệ Tàu trong tương lai mà đáng lẽ có thể tránh được.

Phạm Nhật Bình

 

Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print

BÀI MỚI

TSMC sản xuất các chip hiệu năng cao cho những công ty công nghệ hàng đầu, bao gồm cả Nvidia. Trong hình: C.C. Wei, CEO của TSMC (phải), và Jensen Huang, CEO của Nvidia. Ảnh: Reuters

Eo Hormuz đóng cửa ngầm đe dọa ngành công nghiệp bán dẫn Đài Loan

Đài Loan là nơi sản xuất chip cho cả thế giới, phục vụ cho các hệ thống AI, mạng lưới phòng thủ và phương tiện chạy bằng điện. Điều quan trọng là quy trình sản xuất phụ thuộc vào một nguyên liệu hóa dầu gọi là naphtha, hiếm đến mức không bao giờ xuất hiện trong những cuộc thảo luận về chính sách chất bán dẫn, nhưng quan trọng tới mức chỉ cần thiếu nó, quá trình sản xuất sẽ trở nên đình trệ.

Lễ khởi công giai đoạn 2 dự án kênh đào Phù Nam. Ảnh: AFP - AKP

Kênh đào Phù Nam ở Cam Bốt: Trung Quốc cấp 49% kinh phí giai đoạn thứ hai

Trung Quốc, hôm nay 11/04/2026, thông báo sẽ cấp kinh phí một phần cho việc xây dựng tại Cam Bốt kênh đào Phù Nam (Funan Techo), tổng trị giá 1,7 tỷ đô la Mỹ, nối từ sông Mekong ra Vịnh Thái Lan, với chiều dài 180 km. 

Đại sứ Trung Quốc tại Cam Bốt, Uông Văn Bân (Wang Wenbin), cho biết trong một buổi lễ rằng các doanh nghiệp Trung Quốc sẽ nắm giữ 49% cổ phần trong giai đoạn thứ hai, cũng là giai đoạn quan trọng nhất của dự án.

Eo biển Hormuz (trái) và eo biển Đài Loan. Ảnh: The Seattle Times, The Diplomat

Từ Hormuz nghĩ về eo biển Đài Loan

Chiến dịch quân sự của liên quân Mỹ-Israel đã vấp phải một trở ngại quan trọng: Eo biển Hormuz! Ngay trước khi ném những quả bom đầu tiên xuống Iran, các chỉ huy quân sự Mỹ đã lo ngại việc Tehran phong tỏa eo biển Hormuz trong một đòn phòng vệ bất đối xứng. Một chiến thuật như vậy đang được Trung Quốc cân nhắc nếu Mỹ can dự vào cuộc xâm lược Đài Loan mà Chủ Tịch Tập Cận Bình có thể khơi mào trước năm 2027.

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm. Ảnh: Cổng Thông tin Điện tử Quốc hội

Tổng bí thư kiêm chủ tịch nước: Mục tiêu hay phương tiện?

Giấc mơ phát triển không chỉ là giấc mơ của một nhà lãnh đạo. Đó phải là giấc mơ của hàng triệu người Việt – những người đang vật lộn với chi phí sinh hoạt, với sức ép việc làm, với tương lai con cái mình trong một thế giới cạnh tranh khốc liệt.

Vấn đề không phải là người “trên đỉnh cao chói lọi” muốn gì? Vấn đề là cấu trúc quyền lực hiện nay cho phép – hay giới hạn – tổng bí thư, chủ tịch nước làm những gì?