Những đứt gãy trong xã hội Việt Nam

Từ trái: Tất Thành Cang, Nguyễn Đức Chung và Nguyễn Nhân Chinh.
Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print
Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print

1. Đứt gãy trong hệ thống điều hành xã hội (chính quyền)

Nhìn bề ngoài thì hệ thống ấy chặt chẽ, “một tờ giấy không thể lách vào,” nhưng kỳ thực nó có rất nhiều lỗ hổng và những đứt đoạn tạo thành những vực sâu giữa các cấp và trong nội bộ mỗi cấp. Trên không quản lý được dưới, “phép vua thua lệ làng;” lãnh đạo không quản được nhân viên. Vô số quy định được đưa ra mỗi lúc một dài thêm, nhưng tính hiệu quả của chúng thì cơ bản không phát huy được. Tình trạng này phơi bày một thực tế của sự quan liêu, bất lực, “trên bảo dưới không nghe;” trên phải chỉ đạo theo kiểu giật dây, dưới thì đối phó với trên. Nó cho thấy một nội bộ ngột ngạt khi vừa phải sử dụng “quy định” vừa dùng mệnh lệnh cá nhân để quản lý; vừa trưng ra một cỗ máy ì ạch, trì trệ, vận hành một cách nặng nhọc.

Từ sự đứt gãy ấy, hệ thống này làm thành những “vùng cát cứ,” càng xa “trung tâm quyền lực” thì càng quan liêu; tham nhũng tràn lan; làm việc chiếu lệ; xây dựng cánh hẩu, tạo ra tình trạng “cả họ làm quan” v.v. và v.v.

2. Đứt gãy trong mối quan hệ giữa chính quyền và nhân dân

Dường như mối bất đồng, bất hòa giữa nhân dân và nhà cầm quyền càng ngày càng lớn; niềm tin giảm sút, bất mãn gia tăng; chống đối ngày càng nhiều. Chính quyền xa dân, bắt nạt dân, thậm chí xung đột khi xâm phạm nặng nề quyền lợi của nhân dân (những ví dụ như Thủ Thiêm). Một bộ phận không nhỏ dân chúng mang nỗi bất bình và thậm chí quay lưng lại với nhà cầm quyền. Trong khi, chính quyền ở nhiều nơi đã không những không bảo vệ được lợi ích cho dân mà còn trực tiếp xâm phạm, gây ra sự phẫn nộ trong dân.

Tính chính danh của nhà nước chỉ được xác lập khi nhận được sự đồng thuận, ủng hộ và tin tưởng của nhân dân. Nếu tình trạng đổ vỡ niềm tin này vẫn không được hàn gắn bằng những nỗ lực thật lòng từ sự cải cách thể chế ở phía nhà nước thì tính chính danh ấy sẽ ngày càng mất đi và tình trạng xã hội sẽ ngày càng rối loạn; và đưa tới những dự cảm bất an về lịch sử như một tất yếu…

3. Đứt gãy trong nội bộ dân chúng

Các tầng lớp nhân dân thiếu đi một linh hồn là “ý thức công lợi” hay “luân lý xã hội” – cái ý thức trách nhiệm đối với nhau trong một tinh thần bảo vệ lợi ích chung cả trước mắt và lâu dài. Chính vì thế, mỗi người thường hành xử theo lối “vị lợi,” ích kỷ, thu vén cho cuộc sống riêng mà ít cùng nhau xây dựng và tranh đấu cho những giá trị phổ quát có tính cộng đồng.

Người nông dân thì sản xuất tự phát, doanh nghiệp thì chạy theo lợi nhuận; trí thức bỏ quên hoặc lảng tránh vai trò “phản biện xã hội” và kiến tạo các giá trị. Thành ra, xã hội rơi vào tình trạng rời rạc: lạc hậu, hám lợi và manh mún. Các thành phần xã hội không tạo thành được một hệ thống “sạch,” một hệ thống có nội lực và tự chữa lành. Càng vận động, cái xã hội như thế càng tự phá vỡ ra từ bên trong, dẫn tới mai một các giá trị và ngày càng đi lệch ra khỏi đường hướng tương lai tiến bộ đang cần phải vươn tới. Và thực tế, xã hội Việt Nam đang rơi vào tình trạng khủng hoảng giá trị một cách trầm trọng đến mức không thể nhắm mắt làm ngơ được nữa.

• Tất cả cái tình trạng này trong xã hội Việt Nam cần được nhìn thấy một cách rõ ràng; cần được nhận thức một cách sâu sắc; và phải có hành động để chấn hưng. Mỗi thành tố và thành phần cho đến cá nhân cần nỗ lực hành động, không thể để rơi vào “hội chứng ếch luộc.”

• Chỉ khi nào mỗi người dân nhận thức được vai trò và trách nhiệm của mình đối với cộng đồng cũng chính là đang lo cho chính mình và gia đình mình ở cả hiện tại và tương lai, khi đó xã hội mới bắt đầu có sinh khí trở lại để xây dựng. Mỗi người cần vứt bỏ cái ý niệm cho rằng “mình nhỏ bé, không thay đổi được gì,” để hiểu rằng tất cả sự nhỏ bé ấy không những sẽ tạo thành sức mạnh vĩ đại làm nên một cơ thể xã hội mới mà còn gần như là sức mạnh duy nhất để kiến tạo.

Trong công cuộc phục sinh tất yếu như một mệnh lệnh của sự tiến hóa lịch sử này, mỗi NGƯỜI DÂN (đặc biệt là tầng lớp trí thức), chứ KHÔNG PHẢI AI KHÁC chính là chủ thể thiêng liêng không thể thay thế và chối từ trách nhiệm của mình.

Độc lập dân tộc thông qua độc lập cá nhân” (Fukuzawa) – đó là con đường sáng nhất cho sự phát triển bền vững và tốt đẹp.

FB Thái Hạo

Nguồn: Bauxite Việt Nam

 

Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print

BÀI MỚI

Biểu tình chống Dự luật Đặc khu tại Sài Gòn hôm 10/6/2018. Ảnh: VNTB

Biểu tình: Một quyền chính trị quan trọng bị cấm kỵ

Xuyên suốt lịch sử lập hiến của Việt Nam, quyền hội họp và biểu tình luôn được ghi nhận trong các bản Hiến pháp năm 1959 tại Điều 25, Hiến pháp 1980 tại Điều 67, và Hiến pháp 1992 tại Điều 69. Tuy nhiên,  thực tế lịch sử lại không như vậy.

Cho đến nay, Điều 25 của Hiến pháp 2013 vẫn khẳng định công dân có quyền tự do ngôn luận, báo chí, hội họp và biểu tình. Thế nhưng, quyền biểu tình và hội họp vẫn bị treo vô thời hạn!

Ảnh minh họa: Internet

Phát triển và thu hút nhân tài từ nhỏ – trong nước nói, nước ngoài làm

Trong khi Việt Nam vẫn đang hô hào “trọng dụng nhân tài” ở mọi cấp độ, các quốc gia khác đã âm thầm thu hút nguồn lực xuất sắc của chúng ta từ lúc các em còn ngồi trên ghế lớp 8, lớp 9.

Không phải ngẫu nhiên mà Singapore triển khai hai chương trình học bổng lớn – ASEAN Scholarship và A*STAR Scholarship – nhắm trực tiếp vào học sinh Việt Nam từ độ tuổi 14–16.

Ông Tô Lâm phát biểu tại Diễn đàn Đối thoại Shangri-La, Singapore hôm thứ Sáu 29/5/2026. Ảnh: Reuters

Tô Lâm: Ngoại giao một đằng, nội trị một nẻo?

Đó là nghịch lý lớn nhất của đời sống chính trị Việt Nam hiện nay. Đối ngoại thì nói ngôn ngữ của đối thoại, nhưng đối nội lại vận hành bằng ngôn ngữ của kiểm soát. Đối ngoại thì kêu gọi tôn trọng khác biệt, nhưng đối nội lại rất ít chỗ cho những tiếng nói khác biệt. Đối ngoại thì nói về hòa bình, nhưng đối nội lại duy trì một không khí khiến nhiều người e ngại khi bày tỏ quan điểm của mình về những vấn đề hệ trọng của đất nước.

Ảnh minh họa: Mạc Đĩnh Chi đi sứ sang Tàu

Mạc Đĩnh Chi – Nhà ngoại giao hay thi sĩ

Khi sứ đoàn Đại Việt chuẩn bị hồi hương, triều đình nhà Nguyên báo tin một công chúa được vua hết mực yêu thương vừa qua đời. Mạc Đĩnh Chi lại được triệu vào để đọc điếu văn cho công chúa. Theo lời truyền đạt, Mạc Đĩnh Chi sẽ được giao cho một bài điếu văn đã được viết sẵn. Tuy nhiên, khi mở trang giấy, trước mắt ông chỉ có duy nhất một chữ: “Nhất”!

Chỉ sau một thoáng lặng im, Trạng nguyên Mạc Đĩnh Chi đã xuất thần đọc một bài điếu…