Những người chống Trung Quốc bằng máu của mình (II)

Ban chỉ huy Trung đoàn 567 tại Cao Bằng trước tháng 2/1979. Ảnh: FB Truong Huy San (Osin HuyDuc)
Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print
Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print

“Điều gì các viện sử quốc doanh không làm, người lính sẽ tự làm lấy. Đó là ý nghĩ bất chợt của tôi khi đọc đến trang cuối cùng tập bản thảo của một người lính có mặt tại Cao Bằng tháng 2/1979. Hơn 180 trang viết ngồn ngộn tư liệu, đang rất thô mộc. Vì thô mộc như những người lính nên nó quá sống động và vô cùng chân thực.”

Trên đây là mấy dòng tôi viết vào ngày 21/4/2020, khi cuốn sách vẫn đang ở dạng bản thảo. Gần 3 năm sau, bác sĩ Nguyễn Thái Long đã bổ sung rất nhiều tư liệu và cuốn sách chính thức được xuất bản có tên: TIẾNG VỌNG ĐÈO KHAU CHỈA [369 trang, Nhã Nam ấn hành].

Bác sĩ Nguyễn Thái Long là người mà vào ngày 17/2/1979, khi chiến tranh xảy ra đang là y sĩ của Tiểu đoàn 1, Trung đoàn 567.

Sách "Tiếng Vọng Đèo Khau Chỉa" của tác giả Nguyễn Thái Long, Nhã Nam ấn hành
Sách “Tiếng Vọng Đèo Khau Chỉa” của tác giả Nguyễn Thái Long, Nhã Nam ấn hành

 

Cuốn sách là những trang hồi ức về trung đoàn. Một trung đoàn, trong những năm 1977, 1978, chỉ được giao khoét núi mở đường; cho tới tháng 12/1978, tức là chỉ còn mấy chục ngày trước Chiến tranh, vẫn không được huấn luyện sẵn sàng, không được trang bị đầy đủ vũ khí, không được bổ sung quân số… Một trung đoàn địa phương mà đã phải đối đầu với hai sư đoàn chủ lực có xe tăng, pháo dàn… suốt 12 ngày đêm ở Tà Lùng, Khau Chỉa…

Có những trang viết như những thước phim:

“Một đám rất đông lính Trung Quốc bu quanh cây nhãn ở ngã ba thị trấn. Một sỹ quan của ta bị chúng buộc dây vào chân rồi treo ngược lên cành nhãn. Anh ấy bị tra tấn… Từ xa nhìn qua ống nhòm chỉ thấy anh rũ rượi, quằn quại… Một lúc sau, anh dãy lên vài cái rồi hy sinh. Mấy cậu trinh sát định nã vào đám lính Tàu mấy loạt AK nhưng anh Khắc ngăn lại, tầm bắn hơi xa, vả lại nhiệm vụ chính là đi trinh sát. Anh Khắc mắt đỏ hoe…”

Có những trang viết làm ta lặng người đi:

“Sáng sớm 2/3, bọn tàu tràn vào đen đặc cả cánh đồng… Hai nữ y tá của đại đội quân y trung đoàn là Đinh Thị Tuyến và Nguyễn Thị Huệ không còn đường rút đành đưa thương binh nặng ở lại hang Keng Riềng (Ngườm Hẩu) ẩn náu, cùng đi có cả mấy người dân tự nguyện giúp bộ đội chăm sóc thương binh. Cả hang chỉ có một khẩu CKC với mấy chục viên đạn…, Tuyến và Huệ đã bắn những viên đạn cuối cùng vào đám lính Trung Quốc tấn công lên hang. Bọn lính chặn cửa hang, dùng súng phun lửa, B40, B41 bắn vào… Hang Keng Riềng cháy đen khét lẹt, những xác người bị cháy thui co quắp, nứt toác…”

Có những trang viết làm máu trong người ta sùng sục sôi:

“…Ngày 28/2, liên lạc trung đoàn về báo cho đội văn công và trung đoàn bộ ở bản Chang về xã Hoàng Hải để rút cùng trung đoàn… Đoàn người hôm đó khoảng hơn bốn chục người, chủ yếu là nữ, vũ khí chỉ có 1 AK và 1 CKC… Vượt quốc lộ 3, đoạn Lũng Xỏm, Lạc Diễn chừng một cây số thì đụng ổ phục kích của lính Trung Quốc. Minh Lý nổ súng chặn giặc và hô anh chị em chạy lên núi. Chỉ có mấy người chạy thoát… Bọn lính Trung Quốc quây bắt được mười mấy người, chúng đâm chết mấy chiến sỹ nam, các chiến sỹ nữ văn công bị đám lính Trung Quốc lao vào xâu xé hãm hiếp, rồi dùng cọc nhọn, lưỡi lê đâm nát thi thể các cô gái. Hai mươi người bị giết hại, các thi thể nữ không một mảnh vải bị chúng phơi ngoài cánh đồng mấy ngày…”

Và, có những trang viết về người lính khi tiếng súng đã tạm yên vẫn làm ta khóc to lên nức nở:

“Tuần đầu tiên sau chiến tranh có một việc bất ngờ là tiểu đoàn được xem văn công xung kích ngay tại trận địa… Tốp ca nam ba người hát ‘Làng tôi sau lũy tre mờ xa…’ Nhớ nhà, nhớ mẹ, nhớ quê rớt nước mắt. Suốt hơn một tháng, tin tức chỉ được nghe qua chiếc radio của chính trị viên, thư từ liên lạc bị ách hết, biết chắc mẹ ở nhà rất nóng ruột chờ tin…

Tôi nói với một cậu văn công: ‘Bạn về Thái Nguyên, đánh điện về cho gia đình tôi mấy chữ rằng tôi còn sống kẻo mẹ tôi khóc hết nước mắt.’ Cậu văn công nghe xong nói nhỏ với anh Trưởng đoàn. Anh Trưởng đoàn đứng lên nói to, các đồng chí hãy cho chúng tôi địa chỉ về đến Thái Nguyên chúng tôi sẽ tìm cách báo tin về nhà sớm nhất. Anh vừa dứt lời, rào rào tiếng hoan hô, tiếng vỗ tay của lính…

Cuối năm đó tôi được về thăm nhà, mẹ tôi đưa tôi xem bức điện báo, gửi từ Thái Nguyên: ‘Mẹ đừng khóc, con trai của mẹ vẫn còn sống.'”

Theo tác giả:

“Chiến tranh nghiệt ngã vô cùng, tháng 2/1979, có không ít những kẻ hèn nhát vứt súng chạy dài nhưng cũng rất nhiều tấm gương chiến đấu dũng cảm, hy sinh oanh liệt. Nói không sợ chết là không đúng. Không ai là không sợ, không ai muốn chết. Nhất là khi nhìn trực tiếp chớp lòe đạn pháo bắn tung chiến hào, những xác người văng lên tan nát và những tiếng kêu la đau đớn… Đạn cày xối xả bên mình, dưới chân đồi bọn lính Trung Quốc đông lúc nhúc, thổi kèn, phất cờ, hò hét tả lớ, tả lớ xung phong. Nhưng tại sao người lính không buông súng bỏ chạy…”

Đọc những trang viết của những người lính mới thấy, phần lớn những người thực sự anh hùng hoặc đã chết hoặc đã trở về quê lặng lẽ với những ước mơ vô cùng giản dị.

Các cựu binh Trung đoàn 567 về dự buổi ra mắt cuốn sách "Tiếng Vọng Khau Chỉa." Ảnh: FB Truong Huy San (Osin HuyDuc)
Các cựu binh Trung đoàn 567 về dự buổi ra mắt cuốn sách “Tiếng Vọng Khau Chỉa.” Ảnh: FB Truong Huy San (Osin HuyDuc)

 

Mặc dù, trận đánh ở cao điểm A6b ngày 31/5/1985 đã được đưa vào giảng dạy ở các trường quân sự Việt Nam, không ai nhắc, những người trụ lại cao điểm A6b, Vị Xuyên – nơi được gọi là “Lò Vôi Thế Kỷ” – chính là những người lính của Trung đoàn 567. Năm 2016, khi thành lập Ban liên lạc cựu binh Mặt trận Vị Xuyên, mấy chục vị tướng tá, say sưa nói tới trận đánh A6b nhưng không ai nói về Trung đoàn 567 [dù 567 đã từng được anh hùng].

Cả Trung đoàn 567 biết Hồ Tuấn đã chiến đấu ở Khau Chỉa như một anh hùng. Người lính thông tin Đỗ Quang Thịnh chứng kiến sự hy sinh anh dũng của đại đội trưởng Phạm Xuân Giao trên chốt A6b ngày 7/6/1985. Không ai trong họ được vinh danh. Đỗ Quang Thịnh từng nhắn cho tác giả Nguyễn Thái Long: “Cám ơn anh đã viết… còn hỏi huân huy chương thì giấy tờ mệt lắm, em không hỏi đâu. Con em nó bảo: Bố không được tặng huân chương nhưng với mẹ và con, bố là một người anh hùng.”

Nhưng, nhân vật ám ảnh nhất trong cuốn sách, với tôi, là “Bố Hoan,” người tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn 1, can trường bảo vệ đèo Khau Chỉa, sau chiến tranh 17/2/1979 là trung đoàn trưởng trung đoàn 567. Hình ảnh ông, một người lính già xuất ngũ, ngồi trên xe ngựa, chở 2 bao gạo từ Biên giới về quê Lý Nhân, Hà Nam, thật tiêu biểu cho hình ảnh những người dân Việt Nam. Những người, trong chiến tranh, sẵn sàng sinh tử để bảo vệ giang san; khi giặc tan, chỉ mong được trở về, mong có được một ngôi nhà cho riêng mình.

“Bố Hoan” nhập ngũ 1949, trải qua 3 cuộc chiến tranh; năm 1982 xuất ngũ, năm 1986 phải rứt ruột bỏ lại căn nhà ước mơ cả đời mới dựng được trên đất hương hỏa vào Nam “kinh tế mới” và chết khi tha hương, trong lặng lẽ.

Chụp với tác giả Nguyễn Thái Long (trái) trong can-tin trạm 66. Ảnh: FB Truong Huy San (Osin HuyDuc)
Chụp với tác giả Nguyễn Thái Long (trái) trong can-tin trạm 66. Ảnh: FB Truong Huy San (Osin HuyDuc)

 

Tiếng Vọng Đèo Khau Chỉa không phải là cuốn sách đầu tiên viết về Cuộc chiến chống quân Trung Quốc xâm lược, bắt đầu từ 17/2/1979. Nhưng, chưa có cuốn sách nào viết về chiến tranh này cận cảnh, khốc liệt như Tiếng Vọng Đèo Khau Chỉa.

Cuốn sách của bác sĩ Nguyễn Thái Long không phải là hồi ức cá nhân, nó “được viết” bởi những người lính Trung đoàn 567. Những người đã chống Trung Quốc bằng máu của chính mình.

Chính sử ít khi “nhớ mặt” những người đã thực sự hy sinh, vệ quốc. Nhưng, những người lính không bao giờ quên nhau. Những gì mà những cựu binh Trung đoàn 567 đã nói trong cuốn sách này, đã làm để tưởng nhớ đồng đội ở Khau Chỉa, Keng Riềng… mãi mãi sẽ được giữ trong lòng người Việt.

Huy Đức

Nguồn: FB Truong Huy San (Osin HuyDuc)

XEM THÊM:

 

Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print

BÀI MỚI

Công nhân tại một xưởng giày ở Sài Gòn. Ảnh minh họa: Reuters

EU đưa Việt Nam vào “danh sách đen” thuế vì vấn đề minh bạch

Tại sao Việt Nam lại bị đưa vào “danh sách đen” về thuế của Liên Minh Châu Âu, hiện có 10 nước, chủ yếu nằm ở vùng Caribê, Thái Bình Dương và cả Nga? Danh sách được cập nhật hai lần một năm. Lần sửa đổi tiếp theo dự kiến ​​vào tháng 10/2026. Việt Nam cần có những biện pháp gì để có thể được rút ra khỏi danh sách trong lần cập nhất tới?

Đình chiến của người Mỹ, danh dự của người Ba Tư

Ý niệm rằng Iran là một trung tâm lịch sử, một quốc gia từng là đế chế, một cộng đồng chính trị không chấp nhận bị xếp lại vào vai một kẻ phải nghe lệnh.

Khi xung đột được cảm nhận dưới lăng kính đó, mọi đòn đánh từ bên ngoài không chỉ làm thiệt hại phần cứng quân sự; chúng còn nuôi dưỡng một câu chuyện rất nguy hiểm ở bên trong: Iran không chỉ bị tấn công, Iran bị làm nhục. Và một dân tộc cảm thấy mình bị làm nhục thường không dễ bước vào đình chiến với tâm thế kỹ trị.

Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VAST) trực thuộc chính phủ chuyển sang đơn vị sự nghiệp trực thuộc Trung ương đảng. Ảnh: Công nghệ Số & Truyền thông

Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam: Phép thử bước ngoặt cho khoa học Việt Nam

Đây không còn là vấn đề điều chỉnh cơ cấu, mà là một bước ngoặt xác định lại vị thế của VAST (Viện Hàn lâm KH&CN): Tiếp tục là một trụ cột không thể thay thế của hệ thống khoa học quốc gia, hay dần bị phân rã và hòa vào các cấu trúc khác. Nói cách khác, phía trước không chỉ là thách thức cải tổ, mà là phép thử trực tiếp đối với lý do tồn tại của Viện Hàn lâm KH&CN.

Ảnh minh họa: Putin (trái) và Tô Lâm

Từ Moscow đến Hà Nội: Khi quyền lực chọn con đường cô lập

Những gì đang diễn ra tại Việt Nam, nhất là từ sau đại hội 14 cho thấy một xu hướng đáng lo ngại: Quyền lực không còn muốn bị giới hạn.

Quyết định đưa các cơ quan truyền thông (VOV, VTV, TTXVN) và hai cơ quan học thuật nằm dưới sự quản lý và chỉ huy của bộ máy đảng không phải là cải tổ. Đó là thâu tóm.