Những “tình huống thú vị”

Hẳn là ông Thủ Tướng Nguyễn Xuân Phúc cùng với “bầu đoàn, thê tử” 8 bộ trưởng tháp tùng đã có một tình huống không dễ chịu mà cũng chẳng “thú vị” gì ở cuộc họp thượng đỉnh G-20 tại Osaka vừa qua khi bị Tổng Thống Donald Trump “chỉ mặt, đặt tên” là “the single worst abuser of everybody”, đã lợi dụng Mỹ tệ hơn rất nhiều so với Trung Quốc.

Không rõ, ông Bộ Trưởng Bộ 4 T – Thiếu Tướng Nguyễn Mạnh Hùng – có mặt trong đoàn tùy tùng của ông Phúc tại hội nghị, mới đây còn “lớn tiếng” với các doanh nghiệp Mỹ như Facebook, Youtube, có cảm thấy “nhột” với “interesting situation” mà Donald Trump nhắc tới hay không? Nhưng chắc rằng nhiều vị sẽ cảm thấy “không rét mà run”.

Thị trường Mỹ, nơi đem lại thặng dư 30 tỷ Mỹ Kim hiện tại, đang đảm bảo nguồn ngoại hối và động lực kinh tế sống còn cho Việt Nam, rất có thể bị đặt vào một tình trạng “trứng đẳng đầu gậy” với những quyết định không thể lường trước của người đàn ông thích diet coke thay vì rượu Sake này.

Với tư cách là một khách mời của diễn đàn G-20 cùng với 9 quốc gia khác, song đoàn Việt Nam với số lượng quan chức hùng hậu, gồm phân nửa “nội các” dẫn đầu bởi ông Nguyễn Xuân Phúc đã tới Osaka cùng nhiều kỳ vọng vào các “lợi ích” có thể “xúc tiến” được ở các hoạt động bên lề hội nghị.

Ngoài một hội thảo lớn tiếp xúc với các doanh nghiệp Nhật Bản để mời gọi đầu tư, một cuộc họp cấp bộ trưởng G-20 về tài chính và y tế mà Việt Nam cũng được làm khách, cuộc họp cấp cao MRC 3rd giữa Nhật Bản – các nước tiểu vùng sông Mekong lần thứ 3 được tổ chức tại Tokyo, được tiến hành sau khi kết thúc hội nghị, hứa hẹn nhiều dự án “màu mỡ” được chính phủ Nhật Bản tài trợ nguồn vốn.

Báo chí trong nước thông báo rằng những thỏa thuận hợp tác giữa Việt Nam và các doanh nghiệp Nhật Bản đã được ký kết giá trị hơn 10 tỷ USD. Không rõ chi tiết của các thỏa thuận hợp tác này là gì, với những đối tác nào? Song những “trải nhiệm thực tế” mà các doanh nghiệp Nhật Bản có được ở Việt Nam chắc không mấy tốt đẹp.

Một ví dụ “nhãn tiền”, cho tới nay, chính quyền thành Hồ vẫn chưa thanh toán xong khoản nợ hơn 100 triệu Mỹ Kim cho nhà thầu Nhật Bản thi công tuyến Metro số 1, dù bị đại sứ Nhật Bản nhiều lần nhắc nhở. Chiến lược địa chính trị khu vực trong thế kỷ 21 của Nhật Bản là hướng về Đông Nam Á, với sự ủng hộ mạnh mẽ của Mỹ, nhằm tạo ra những vành đai “tự do và thịnh vượng” ngăn cản tham vọng Trung Hoa, nhưng đối với doanh nghiệp, họ cần nhìn thấy một sự đảm bảo đồng vốn đầu tư và môi trường luật pháp minh bạch, thuận lợi ở nước sở tại.

Điều này rõ ràng vẫn còn là một tương lai xa vời ở Việt Nam. Dù nhà cầm quyền CSVN liên tục đưa ra những hứa hẹn tuân thủ các yêu cầu của các hiệp định quốc tế mà Việt Nam đã tham gia là thành viên như WTO, gần đây nhất là EVFTA, nhưng sử dụng “luật rừng” và vòi vĩnh tiền của nhà đầu tư nước ngoài vẫn là “thói quen” khó bỏ ở giới chức Việt Nam. Một doanh nghiệp Nhật Bản đã tạo ra “tình huống thú vị” khác khi hỏi ông Nguyễn Xuân Phúc rằng “Các ông có gì mới hơn so với 5 năm trước mà giờ đây lại tổ chức hội nghị xúc tiến thương mại vào thời điểm này?”

Ngày 30 tháng Sáu, 2019, Việt Nam và Liên Minh Châu Âu đã chính thức ký kết hiệp định EVFTA. Sự kiện lịch sử này là kết quả của 9 năm dài nỗ lực vận động các cơ cấu thương mại và nghị viện của Liên Minh Châu Âu của Hà Nội. Dù vẫn còn vô số những bất đồng và khác biệt trong các yêu cầu về nhân quyền, môi trường, công đoàn và lợi ích của người lao động mà CSVN sẽ còn phải cố gắng đáp ứng các giá trị phổ quát của hiệp định… song EU vẫn đưa ra một cơ hội lớn cho Việt Nam.

Vai trò đặc biệt của Việt Nam trên bản đồ địa kinh tế chính trị vùng Đông Nam Á dường như đã được đánh giá cao hơn là thực trạng tồi tề về nhân quyền của quốc gia này. Bản hiệp định cũng thể hiện mong muốn của một Liên Âu muốn đưa những quốc gia “the worst abuser” nằm trong những vùng lãnh thổ có giá trị trong bản đồ địa chính trị kinh tế của họ dần phải tuân theo khuôn khổ quốc tế.

Báo chí trong nước những ngày qua dày đặc những bài phân tích “lợi ích khổng lồ” của Hiệp Định EVFTA mà doanh nghiệp Việt Nam nhận được, đồng thời ca ngợi lên mây bước “đi tắt, đón đầu” giành lợi thế so với các nước trong khu vực sẽ khiến cho Việt Nam trở thành nơi thu hút đầu tư của các doanh nghiệp nước ngoài.

Rõ ràng, mục đích trước mắt mà Việt Nam đang mong đợi là nguồn tiền của các doanh nghiệp FDI và số lượng công ăn việc làm sẽ tăng lên. Những “lợi ích” khác ẩn phía sau là nguồn thu từ bán đất, BOT hải quan và hàng trăm loại thuế phí vặt được từ “đàn vịt” cũng sẽ xôm tụ hơn… Hà Nội kỳ vọng hiệp định EVFTA sẽ là câu thần chú “Vừng ơi, mở cửa ra”, đem lại lợi thế lớn cho nền kinh tế “định hướng xã hội chủ nghĩa” của mình.

Không biết các doanh nghiệp Việt làm ăn chân chính liệu có khả năng thực sự nắm bắt cơ hội này hay không nhưng trên thực tế tình trạng các doanh nghiệp Trung Quốc và Việt Nam “bắt tay” nhau để hưởng lợi thuế quan ưu đãi là phổ biến. Doanh nghiệp Việt Nam hầu như chỉ làm công việc lắp ráp cuối cùng, dán nhãn “made in Việt Nam” để lấy C/O.

Liệu EVFTA có phải là liều thuốc thần cho nền kinh tế Việt Nam hay không? Câu hỏi này cần có thời gian để trả lời. Nhưng có thể lấy một ví dụ để phân tích ảnh hưởng của EVFTA tới doanh nghiệp Việt.

Một trong những ngành hàng được mong đợi sẽ có nhiều lợi thế nhất từ Hiệp Định EVFTA là may mặc và da giày nhưng hầu hết đang phụ thuộc nguồn nguyên liệu từ Trung Quốc. Do đó, nếu không thay đổi cơ cấu nguồn nguyên liệu thì ngành may mặc cũng vẫn chịu mức thuế 12%. Có lẽ, vì vậy, các doanh nghiệp Trung Quốc đã tính đến việc thâu tóm toàn bộ các doanh nghiệp nội địa cung ứng nguyên liệu đầu vào cho các ngành hàng này từ trước đó và sẽ mở rộng dây chuyền ngay tại Việt Nam khi EVFTA có hiệu lực.

Không chỉ riêng gì may mặc, tình trạng chung này đối với nhiều doanh nghiệp Việt có thể thực sự là một khó khăn để doanh nghiệp có thể tiếp cận được các lợi thế mà Hiệp Định EVFTA mang lại. Sẽ có nhiều “tình huống thú vị” đối với các doanh nghiệp “hồn Trương Ba, da hàng thịt” – “MAKE in Việt Nam” khi bị chỉ mặt gọi tên “the worst abuser of everybody”. Kẻ hưởng lợi lớn nhất cuối cùng vẫn là các doanh nghiệp Trung Quốc.

5 tháng Bảy, 2019

Tân Phong

 

BÀI MỚI

Diễn Đàn Hương Sơn kỳ thứ 9 tại Bắc Kinh diễn ra từ ngày 20 đến 22/10/2019. Ảnh: Reuters.

Sự hèn nhát của lãnh đạo CSVN tại Diễn Đàn Hương Sơn

Tại Diễn Đàn Hương Sơn, Bộ Trưởng Quốc Phòng Ngô Xuân Lịch đọc như học thuộc lòng “Lập trường của Việt Nam là ủng hộ và bảo vệ quyền tự do đi lại, an toàn hàng hải trên Biển Đông phù hợp với luật pháp quốc tế…” Đây không phải là lần đầu tiên mà lập trường của Việt Nam tỏ ra quá nhún nhường đến mức bị đánh giá là yếu hèn trước sự ngang ngược của Trung Quốc trong vấn đề Biển Đông.

Đừng lải nhải mà hãy hành động vì chủ quyền đất nước

Nhiều tờ rơi đòi kiện Trung Quốc (VN-K-TQ) đang được người dân kẻ, vẽ, dán khắp nơi để kêu gọi sự đồng lòng của toàn dân chống kẻ thù phương Bắc. Vậy nhà cầm quyền Việt Nam có dám kiện Trung Quốc không? Đây là một câu hỏi mang tính nan đề khó có đáp án đối với nhà cầm quyền Cộng Sản Việt Nam.

Bộ Trưởng Quốc Phòng Trung Quốc Ngụy Phượng Hòa tuyên bố tại Diễn Đàn Hương Sơn, Bắc Kinh trước sự hiện diện của Đại Tướng Ngô Xuân Lịch, Bộ Trưởng Quốc Phòng CSVN hôm 21/10/2019. Ảnh: FB Việt Tân.

Tướng Trung Quốc lộng ngôn về chủ quyền Biển Đông trước mũi Bộ Trưởng Xuân Lịch

“Các đảo ở Biển Đông và quần đảo Điếu Ngư (ở biển Hoa Đông) là những phần không thể tách rời của lãnh thổ Trung Quốc. Chúng tôi sẽ không cho phép dù chỉ một tấc lãnh thổ mà tổ tiên của chúng tôi đã để lại bị lấy đi,” Thượng Tướng Ngụy Phượng Hòa, Bộ Trưởng Quốc Phòng Trung Quốc ngang nhiên tuyên bố bất chấp sự hiện diện của Đại Tướng Ngô Xuân Lịch và phái đoàn quân sự cấp cao Việt Nam tại diễn đàn Hương Sơn ở Bắc Kinh hôm 21 tháng Mười, 2019.

Bà Hồng Ngát và mấy giây đường lưỡi bò

Một bộ phim đang trình chiếu ở các rạp đã bị dư luận giận dữ chỉ ra là có mang hình ảnh đường lưỡi bò 9 đoạn của Trung Cộng. Đối với người Việt Nam, đường lưỡi bò là hình ảnh đau buồn gợi ra tham vọng xâm lược của Trung Cộng ở Biển Đông nơi mà chủ quyền Việt Nam được xác lập qua nhiều thế kỷ. Thế nhưng, qua phát ngôn xuẩn động của bà Hồng Ngát “vài giây mà làm gì dữ quá”, rõ ràng không chỉ có lãnh đạo ở trung ương mà đại đa số cán bộ đảng CSVN đã là người của Trung Cộng và coi sự xâm lăng của Trung Cộng như không có.