Phân rã quyền lực để giải bài toán năng lượng quốc gia

Thủ tướng Võ Văn Kiệt kiểm tra công tác dựng cột đường dây 500kV Bắc - Nam. Ảnh: EVN
Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print
Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print

Thanh tra EVN có thể giúp tìm ra một phần sự thật về hoạt động của EVN, biết được sự lỗ, lãi của EVN, cũng như câu trả lời về có tăng giá điện để bù lỗ cho EVN hay không? Nhưng thanh tra EVN sẽ không đưa ra được lời giải cho các bài toán quan trọng như: Bao giờ thì không còn bị cắt điện? Bao giờ người mua được lựa chọn nhà cung ứng điện với giá thành hợp lý? Bao giờ thì hệ thống điện đáp ứng các tiêu chí môi trường?

Bài toán đảm bảo năng lượng cho quốc gia là bài toán phức tạp mà nước nào cũng phải đối mặt. Vì là bài toán chung cho mọi quốc gia nên có thể tìm thấy nhiều điểm chung trong các phương thức tiếp cận. Sự khác biệt phần nhiều phụ thuộc vào mức độ các dạng tài nguyên và trình độ công nghệ của mỗi nước. Bởi vậy, đối với các quốc gia chậm phát triển, thì hệ thống điện của các nước tiên tiến luôn là những mẫu hình tham khảo quý báu.

Muốn giúp cho EVN và các công ty điện lực nhà nước thôi lỗ, muốn cho điện không bị cắt vào giờ cao điểm, muốn có giá điện hợp lý, muốn cho năng lượng tái tạo được sử dụng tối đa, thì phải có cách tiếp cận khác.

Đặt bài toán sai thì dẫn đến lời giải sai. Nên điều đầu tiên là phải đặt bài toán đúng.

1. Phân vùng năng lượng và chia nhỏ bài toán năng lượng quốc gia thành các bài toán năng lượng địa phương

Nước ta, trên thực tế, đang đeo đuổi sự quản trị quốc gia tập trung, dù không ngừng đề nghị các nước công nhận nền kinh tế thị trường.

Sự kiên định này, đưa đến hậu quả cụ thể trong ngành điện, là xây dựng hệ thống điện quốc gia tập trung, cung cấp điện quốc gia theo chương trình tập trung từ trung ương. Sự độc quyền của EVN trong ngành điện là sản phẩm tất yếu của sự tập trung quyền lực trung ương.

Nhưng dẫu có muốn tập trung quyền lực, thì cũng phải ngó đến các nguyên lý khoa học. Để tìm ra lời giải tối ưu cho những bài toán lớn phức tạp, cách tiếp cận phổ quát là phân rã bài toán lớn ra nhiều bài toán nhỏ để tìm lời giải tối ưu địa phương cho các bài toán cục bộ. Phát triển hệ thống điện nước ta cũng phải đi theo cách tiếp cận này.

Nghĩa là thay vì đặt bài toán phải cung cấp điện trên toàn quốc bằng một loạt các bài toán phải cung cấp điện cho từng vùng. Hãy chia ra nhiều vùng năng lượng. Mỗi vùng năng lượng với những ưu thế về tiềm năng các thể loại năng lượng của vùng đó sẽ có một hệ thống điện phù hợp.

Vùng năng lượng, không đơn thuần là các yếu tố địa lý, mà còn là dân số, vai trò, và tầm quan trọng. Như vậy, các thành phố lớn như Hồ Chí Minh và Hà Nội tự mình là một vùng năng lượng. Các tỉnh thành lớn khác, hoặc một mình, hoặc liền kề nối tiếp nhau cũng có thể tạo nên một vùng năng lượng.

Nếu phân rã ra như vậy, thì hệ thống điện, bao gồm cơ cấu các loại năng lượng và công suất, của khu vực Nam Bộ, Nam Trung Bộ, Tây Nguyên, Trung Trung Bộ, Bắc Trung Bộ hay Bắc Bộ, TP.HCM hay Hà Nội sẽ rất khác nhau.

Lợi ích của sự phân rã rất rõ ràng:

– Phân rã ra như vậy thì mới có lời giải tối ưu cục bộ, thoả mãn cho địa phương. Mỗi địa phương có lời giải thoả đáng thì toàn quốc có lời giải thoả đáng. Để bài toán lớn toàn quốc, chẳng những đau đầu, mà không bao giờ tìm ra lời giải thoả đáng.

– Phù hợp với đặc thù. Tận dụng được các ưu thế địa phương, nhất là tiềm năng các thể loại năng lượng.

– Huy động được trí tuệ và vật lực trong vùng. Không cồng kềnh. Phát triển nhanh.

2. Trao quyền chủ động cho địa phương giải quyết bài toán năng lượng địa phương

Một bộ óc suy nghĩ không bằng nhiều bộ óc cùng suy nghĩ. Bài toán cung cấp điện toàn quốc không nên để tập trung cho Bộ Công Thương quyết định mà hãy san sẻ trách nhiệm cho các địa phương tham gia quyết định. Nếu tự chịu trách nhiệm cho hệ thống điện của riêng mình, chắc chắn TP.HCM sẽ có kế hoạch đầu tư nhà máy điện và xây dựng hệ thống điện khác hiện nay. Thủ đô Hà Nội cũng phải trở thành một vùng năng lượng với trách nhiệm lớn hơn. Sao không thể là Trung ương và địa phương cùng làm? Sao Hà Nội không thể tự đầu tư nhà máy điện để không còn phải chịu cảnh cắt điện như hiện thời?

Nếu phân quyền cho địa phương, thì đã không có hiện tượng đầu tư dồn dập điện mặt trời vào cùng một khu vực như vừa qua. Vì trước khi đầu tư, nhà đầu tư phải biết là chỉ phục vụ được cho ai? Và muốn bán ra ngoài khu vực thì phải giải quyết bài toán truyền tải điện.

3. Cơ cấu năng lượng theo vùng

“Nợ trả dần, cháo nóng húp vòng quanh”. Khi có ít thì phải san sẻ. Việc xây đường 500 kv Bắc Nam năm 1992-1994 để đưa điện từ Bắc vào Nam là dễ hiểu. Nhưng phát triển thì phải theo ‘lý thuyết phục vụ đám đông’, vùng nào phục vụ vùng đó, mới là tối ưu. Giống như siêu thị phục vụ cư dân tại chỗ, điện sản xuất ở đâu thì phục vụ vùng đó, mạng lưới điện cục bộ phát triển, và các vùng nối với nhau thành một hệ thống trên toàn quốc. Địa hình Việt Nam dài Bắc Nam mà hẹp Đông Tây, đã hết thời xây đường dây 500 kv để chuyển điện từ nhà máy điện NLG Bạc Liêu, Long An, Nhơn Trạch ra đồng bằng Bắc bộ.

Hiện nay, sản lượng điện cả nước năm 2022 là 268,4 tỷ kwh, với dân số 99 triệu thì bình quân khoảng 2.711 kwh/người/năm. Trong khi đó, bình quân của Hoa Kỳ là 11.731 kwh/người/năm (3.930 tỷ kwh/335 triệu người). Nhu cầu điện tiêu dùng của Việt Nam rồi sẽ còn tăng gấp nhiều lần hiện nay. Nếu lấy toàn bộ công suất điện của cả nước hiện có để phục vụ riêng cho miền Bắc hay miền Nam trong tương lai, đều không thể đủ. Cho nên, chiến lược phát triển điện, là vùng nào phục vụ vùng đó. Quy hoạch xây dựng nhà máy điện cũng theo chiến lược đó. Chứ không phải là chuyển điện mặt trời từ miền Nam ra miền Bắc, hay chuyển thuỷ điện từ miền Bắc vào miền Nam.

Bởi thế, tối ưu cục bộ là chiến lược “tế bào” trong quy hoạch điện. Nam Bộ và Nam Trung Bộ, sẽ dựa chủ lực vào điện mặt trời, điện gió, và nhiệt điện khí. Bắc Bộ dựa vào thuỷ điện, điện gió, nhiệt điện khí, điện gió, điện mặt trời (ở mức độ thấp hơn). Khu vực miền Trung, Tây Nguyên sẽ phụ thuộc tương đối đồng đều vào năng lượng tái tạo, thuỷ điện và nhiệt điện khí. Về lâu dài là điện thuỷ triều trải dài theo bờ biển.

4. Không xây dựng mới nhiệt điện than

Điều lạ lùng là trong quy hoạch điện năm 2021-2030 của Điện VIII vẫn kiên trì đưa vào xây dựng 11 nhà máy nhiệt điện than.

Nhiệt điện khí, ít ô nhiễm hơn nhiệt điện than. Về giá thành xây dựng, nhiệt điện khí rẻ hơn nhiệt điện than. Tại châu Á thì trung bình suất đầu tư nhiệt điện khí là 0,757 triệu USD/MW, còn nhiệt điện than siêu tới hạn là 1,295 triệu USD/MW. Tại Việt Nam, suất đầu tư nhiệt điện khí là 0,810 triệu USD/MW, nhiệt điện than cận tới hạn là 1,560 triệu USD/MW, và nhiệt điện than siêu tới hạn là 1,576 triệu USD/MW. Tính trung bình, suất đầu tư điện than đắt gấp 1,8 lần suất đầu tư điện khí.

Một ưu điểm đặc biệt quan trọng khác của nhiệt điện khí mà nhiệt điện than không có được là cho phép sử dụng tối đa điện mặt trời vào các thời điểm khai thác được và nhanh chóng thay thế điện mặt trời khi không thể khai thác vào tối và đêm. Nhiệt điện than không có khả năng này.

Thế giới từ bỏ nhiệt điện than, không biết tại sao Việt Nam lại tiếp tục ngược đường với thế giới. Hay là là thói quen ‘một mình một đường’?

5. “Phân rã quyền lực”

Đeo đuổi một hệ thống điện lực kế hoạch hoá trung ương là đi ngược với quy luật kinh tế thị trường. Hãy theo khoa học mà phân rã quyền lực cho địa phương, đến từng cá thể, để tối ưu hoá mọi hoạt động.

Sự sợ hãi mất quyền lực, không riêng trong ngành điện, là gông cùm sự phát triển của đất nước. Sự kiên trì quyền lực trung tâm trong quản trị đất nước, không mang đến lợi lộc gì, ngoài tai hoạ.

Để giải quyết những vấn đề lớn cần những người không tầm thường. Để “phân rã quyền lực”, “phân rã vùng năng lượng”, chấm dứt cảnh cắt điện, cần những nhà lãnh đạo tầm cỡ như cố thủ tướng Võ Văn Kiệt.

TS Nguyễn Ngọc Chu

Nguồn: FB Nguyen Ngoc Chu

 

Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print

BÀI MỚI

Sách "Chuyện với Thanh" và tác giả Nguyễn Thành Nam

Xã hội sẽ “tử tế” kiểu gì khi “hoàn lưu” những cuộc đấu tố trở lại?

Gieo nỗi sợ, người ta sẽ gặt được sự giả dối. Gieo đấu tố, người ta sẽ gặt sự phản trắc. Gieo thói quen kết tội người khác để bảo vệ mình, người ta sẽ tạo ra một xã hội trong đó không ai thực sự bảo vệ ai. Đến một ngày nào đó, khi chính quyền cần sự dấn thân, lòng can đảm và tinh thần trách nhiệm của công dân, điều họ nhận lại có thể chỉ là những khuôn mặt im lặng, những lời nói theo mẫu và một xã hội đã rút hết sinh khí vào bên trong.

Cuốn sách "Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng" bị thu hồi và tiêu hủy. Ảnh: Nhà xuất bản Hội Nhà Vă

Vụ Nguyễn Thành Nam và màn kịch bệnh hoạn của cả một xã hội

Càng theo dõi diễn biến của vụ việc Nguyễn Thành Nam, người ta càng nhận ra đây không phải là một vụ án “thông thường.” Điều khiến nó trở nên đặc biệt không nằm ở điều luật được áp dụng, mà nằm ở chính con người bị áp dụng điều luật ấy.

Bởi lần đầu tiên trong nhiều thập niên, một người từng công khai giảng dạy môn Tư tưởng Hồ Chí Minh, viết sách với mong muốn làm cho người trẻ hiểu và yêu Hồ Chí Minh hơn, lại bị cáo buộc là người “tuyên truyền chống Nhà nước.”

Ông Tô Lâm phát biểu tại Hội nghị Sơ kết 1 năm vận hành cơ chế mới tổ chức vào ngày 1 tháng 7, 2026. Ảnh chụp từ trang mạng Thể Thao & Văn Hóa

Điểm nghẽn của chế độ Tô Lâm

Điểm nghẽn lớn nhất của Việt Nam hôm nay không còn chỉ là thể chế hay năng lực thực thi. Điểm nghẽn sâu xa hơn là mục tiêu phát triển.

Một quốc gia sẽ đi theo đúng mục tiêu mà nó lựa chọn. Nếu mục tiêu cao nhất là duy trì quyền lực, thì mọi chính sách cuối cùng sẽ phục vụ cho việc bảo vệ quyền lực. Nhưng nếu mục tiêu cao nhất là con người và dân tộc Việt Nam, thì toàn bộ hệ thống chính trị, giáo dục, kinh tế và văn hóa sẽ phải được tổ chức lại để khai mở tiềm năng của con người.

Thủ đô Seoul của Hàn Quốc. Quốc gia này là một trong số những ví dụ thành công về việc thoát khỏi “bẫy thu nhập trung bình.” Ảnh: Gije Cho - Pexels

Bẫy thu nhập trung bình

Cái bẫy này người ta gọi là Bẫy thu nhập trung bình, thuật ngữ do hai nhà kinh tế Indermit Gill và Homi Kharas đặt ra năm 2007, khi họ đang nghiên cứu chiến lược phát triển cho các nước Đông Á.

Ý tưởng cốt lõi thì đơn giản thôi: Một quốc gia nghèo có thể tăng trưởng khá nhanh nhờ mấy lợi thế có sẵn, tài nguyên, nhân công rẻ, hay viện trợ nước ngoài. Nhưng đến một ngưỡng nào đó, mọi thứ chững lại. Lương tăng lên rồi, thế là mất luôn lợi thế “rẻ.”