Rủi ro của các nhà đầu tư khi chuyển nhà máy từ Trung Quốc sang Đông Nam Á

Một xí nghiệp may. Ảnh: Báo Lao Động
Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print
Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print

Khi thời kỳ dân số vàng của Trung Quốc dần qua đi, chi phí sản xuất tại nền kinh tế lớn thứ hai thế giới này đã tăng lên đáng kể. Vấn đề này, cùng với áp lực bảo vệ môi trường ngay càng tăng cao, đã khiến nhiều công ty đa quốc gia chuyển nhà máy của họ đến Đông Nam Á. Quan trọng hơn, họ đang tìm cách để hạn chế tổn thất từ cuộc chiến tranh thương mại ngày càng căng thẳng giữa Mỹ và Trung Quốc.

Tuy vậy, sẽ là quá đơn giản hóa vấn đề khi cho rằng môi trường kinh doanh ở các nước Đông Nam Á là tuyệt vời đối với các nhà đầu tư nước ngoài. Đúng là một số báo cáo gần đây của các hãng tư vấn và viện nghiên cứu cho thấy Đông Nam Á hưởng lợi lớn từ chiến tranh thương mại, nhưng các báo cáo ấy không hề đề cập những rủi ro kinh doanh ở các nền kinh tế này. Nhiều nhà đầu tư nước ngoài vẫn đang tiếp tục gặp rất nhiều trở ngại, đặc biệt là ở Campuchia và Việt Nam.

Môi trường kinh doanh ở Campuchia vẫn rất phức tạp. Đầu năm nay, vì đình công bất hợp pháp, khoảng 1.200 công nhân đã bị sa thải khỏi các nhà máy cung ứng cho các nhãn hiệu H&M và Marks & Spencer.

Đồng thời, chi phí nhân công ở Campuchia cũng đã tăng nhanh. Từ năm 1997, lương tối thiểu hằng tháng ở nước này đã tăng từ 40 đô la lên 182 đô la vào năm nay. Nếu tính luôn phúc lợi công nhân và các trợ cấp khác, chi phí sẽ là 210 đô la, cao hơn lương cơ bản hằng tháng tại Bangladesh, Sri Lanka, Ấn Độ, Myanmar, Pakistan và Lào.

Trong những năm gần đây, biểu tình và đình công của công nhân ngày càng trở nên phổ biến. Trong khi đó, năng suất lao động của Campuchia chỉ bằng 60% của Trung Quốc, đứng sau cả Việt Nam và Indonesia, những nước có năng suất bằng 80% của Trung Quốc.

So với Trung Quốc, Campuchia có chuỗi cung ứng kém hiệu quả hơn, từ cơ sở hạ tầng cho đến các cơ sở hỗ trợ ngành công nghiệp chế tạo. Do đó lại làm phát sinh thêm chi phí cho các nhà đầu tư nước ngoài.

Không chỉ vậy, sang năm Campuchia còn có thể mất ưu đãi miễn thuế khi xuất khẩu sang EU sau khi Liên minh này khởi động vào tháng Hai vừa rồi một tiến trình hủy bỏ các ưu đãi thương mại cho Campuchia do các lo ngại về nhân quyền.

Trong khi đó, Việt Nam được xem là bên hưởng lợi lớn nhất từ thương chiến Mỹ-Trung.

Nhờ vào sự thay thế nhập khẩu và các tác động lan tỏa khác, Việt Nam đang hưởng lợi lớn từ chiến tranh thương mại, với mức tăng trưởng kinh tế bổ sung có thể ở mức 7.9%, theo một báo cáo của Nomura Securities. Song đó là cách nhìn quá đơn giản vấn đề: nhóm nghiên cứu của Anbound tin rằng cơ hội lịch sử của Việt Nam đi kèm những rủi ro lớn.

Việt Nam là một nền kinh tế định hướng xuất khẩu, vốn tiếp tục nhập khẩu quy mô lớn. Lạm phát do nhập khẩu là một viễn cảnh trông thấy và sẽ gây áp lực khiến chi phí nhân công tăng. Các công nhân, khi nhận thấy tác động từ lạm phát tăng cao, sẽ càng có động lực tiến hành biểu tình và đình công. Chính phủ có thể nhượng bộ yêu cầu đòi tăng lương để chống lại lạm phát nhập khẩu. Song làm như vậy Việt Nam sẽ mạo hiểm đánh mất lợi thế là thiên đường nhân công giá rẻ trong mắt các nhà đầu tư.

Việt Nam đã tận hưởng tăng trưởng kinh tế cao và mức tăng tưởng 7,08% của năm ngoái đã vượt quá kỳ vọng. Tuy nhiên, vẫn còn đó nguy cơ gặp phải tình trạng “nghẽn cổ chai phát triển”. Một biểu hiện là sự gia tăng số lượng cao ốc ở các thành phố Việt Nam, một dấu hiệu đáng báo động rằng lợi nhuận từ ngành chế tạo đang chảy nhanh vào ngành bất động sản thay vì được tái đầu tư để mở rộng sản xuất.

Hơn nữa, Việt Nam đang thu hút một lượng rất lớn FDI – 10.8 tỉ đô la chỉ trong quý 1 năm nay – làm gia tăng mức độ nhạy cảm của nền kinh tế trước những chuyển dịch của tư bản nước ngoài.

Rõ ràng trong ngắn hạn, Campuchia và Việt Nam chắc chắn sẽ hưởng lợi lớn từ quá trình tái cấu trúc chuỗi cung ứng công nghiệp toàn cầu và tái dịch chuyển ngành chế tạo. Song, không như Trung Quốc, các nền kinh tế và thị trường nhỏ hơn này chứa đựng những rủi ro đáng kể mà các nhà đầu tư nước ngoài sẽ phải suy xét rất kỹ lưỡng.

Chi phí tăng, “nghẽn cổ chai phát triển”, lực lượng lao động kém hiệu quả hơn, chuỗi cung ứng yếu hơn, và các phong trào công đoàn mạnh mẽ hơn sẽ dần trở nên rõ ràng trong những năm tới – đặt Việt Nam và Campuchia vào chính tình thế bất lợi của Trung Quốc bây giờ.

Cuối cùng, trong một thế giới mà tình trạng sản xuất dư thừa đang trở nên tràn lan và vượt khỏi tầm kiểm soát, những sự tái phân bổ đầu tư nước ngoài như vậy sẽ chỉ càng làm sản xuất dư thừa thêm. Và nếu như một cuộc khủng hoảng kinh tế bùng nổ, các nền kinh tế nhỏ hơn như Việt Nam và Campuchia sẽ gánh chịu hậu quả nặng nề hơn rất nhiều so với Trung Quốc.

Chen Gong

Chen Gong là người sáng lập và là nhà nghiên cứu chính của Viện nghiên cứu độc lập Anbound, thành lập năm 1993 và đặt trụ sở tại Bắc Kinh.

Nguyên bản Anh ngữ: “Moving factories from China to Southeast Asia? Watch out for rising costs and strikes”, South China Morning Post, 1 tháng Bảy, 2019.

Biên dịch: Đỗ Đặng Nhật Huy

Nguồn: Nghiên Cứu Quốc Tế

 

Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print

BÀI MỚI

Admin trang Nhật Ký Yêu Nước (từ trái): Phan Tất Thành, Nguyễn Văn Dũng (Aduku) và Nguyễn Văn Lâm. Ảnh: FB Manh Dang

Tháng 5, tháng của các admin trang Nhật Ký Yêu Nước, những người sống không cúi đầu

Tương lai dân tộc này, chẳng phải đang viết bằng tuổi thanh xuân tù đày, nước mắt, xương máu và cả sinh mệnh của họ. Đừng mãi nhìn họ như những tấm gương nữa, để phí hoài tuổi thanh xuân và sự hy sinh của họ, mà hãy nhìn họ như những người bạn đồng chí hướng với mình để mà cùng gánh vác việc chung.

Non nước này, vốn có phải của riêng ai?

Ông Lý Thái Hùng phân tích bản chất của mô hình quản trị “bao cấp kỹ thuật số”

Bao cấp cũ kiểm soát người dân bằng tem phiếu, hộ khẩu, lý lịch, công an khu vực và tổ dân phố. Bao cấp mới kiểm soát người dân bằng căn cước công dân gắn chip, dữ liệu dân cư, camera, tài khoản số, hóa đơn điện tử, giấy phép hành nghề, chế tài hành chính, kiểm soát mạng xã hội và các mạng lưới an ninh cắm sâu xuống tận cấp xã…

Thủ tướng Nhật Bản Sanae Takaichi vẫy tay khi khởi hành chuyến thăm chính thức tới Việt Nam và Australia tại sân bay Haneda, Tokyo, hôm 1/5/2026. Ảnh minh họa: Kazuhiro Nogi/ AFP via Getty Images

Có thể ngưng cho thiên hạ ‘tựa’?

Nếu xem việc tự nguyện làm thuê cho ngoại nhân cả trên xứ sở của mình lẫn xứ người là “điểm tựa an ninh kinh tế” cho thiên hạ thì Việt Nam còn là “điểm tựa an ninh kinh tế” của Nam Hàn, Đài Loan! Hiện có khoảng 350.000 người Việt đang tha hương cầu thực ở Nam Hàn và khoảng 300.000 người Việt tương tự ở Đài Loan.

Ảnh minh họa: Chủ tịch tỉnh "quản" các bác sĩ từ 1/7/2026 theo Nghị quyết 21/2026/NQ-CP

Từ luật sư đến bác sĩ: “Thời vươn mình” hay thời… xuống hố cả nút?

Điều bi hài nằm ở chỗ, cùng lúc nhà nước liên tục nói về “kinh tế tri thức,” “cách mạng công nghiệp 4.0,” “AI,” “quốc gia số,” thì nền quản trị thực tế lại vận hành theo tinh thần rất… phong kiến: Cứ gom hết quyền về cho quan chức quản là yên tâm nhất. Có cảm giác như trong mắt cấu trúc quyền lực hiện nay, chuyên môn là thứ cần được quản thúc chứ không phải cần được tôn trọng. Càng là lĩnh vực có tính độc lập cao thì càng phải đưa vào vòng kiểm soát.