Tại sao ca nhiễm dịch thứ 17 lại nghiêm trọng bất thường?

Vũ Đức Đam, Phó Thủ tướng, Trưởng ban chỉ đạo quốc gia phòng chống dịch COVID-19 trong buổi họp công bố ca nhiễm dịch Vũ Hán thứ 17 hôm 6/3/2020. Ảnh: netnews
Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print
Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print

Ca thứ 17 xuất hiện làm ầm ỹ truyền thông và náo loạn thị trường nhu yếu phẩm. Đây là hiện tượng hết sức bất thường.

Ngày 25/2 ca nhiễm Covid-19 thứ 16 được công bố là đã chữa khỏi. Ông Vũ Đức Đam Trưởng Ban Chỉ đạo quốc gia phòng chống dịch hoan hỉ tuyên bố: “Với tất cả sự khiêm tốn cầu thị, có thể nói chúng ta đã kiểm soát tốt dịch bệnh”.

Ngày 4/3 ông Đam thông báo “Một tuần nữa không có ca nhiễm mới, Việt Nam sẽ công bố hết dịch”.

Thế nhưng chỉ 2  ngày sau thì ca thứ 17 xuất hiện làm ầm ỹ truyền thông và náo loạn thị trường nhu yếu phẩm. Đây là hiện tượng hết sức bất thường.

Xin tạm chia ra 2 giai đoạn để tiện so sánh

Giai đoạn trước 6/3

Truyền thông dừng lại ở con số 16 ca chữa khỏi/16 ca nhiễm, không có trường hợp nào tử vong. Trong khi đó, ở Trung Quốc lục địa và các quốc gia khác, con số nhiễm bệnh và tử vong tăng lên vùn vụt mỗi ngày làm nhiều người hoài nghi. Sự im lặng thông tin về dịch corona tại Việt Nam như khoảng lặng ở chiến trường giữa hai đợt tấn công, báo hiệu đợt sau khốc liệt hơn đợt trước.

Đây đó vẫn có những tin về những cái chết bất thường, có những triệu chứng giống nhiễm dịch Vũ Hán. Nhiều cái chết trong bệnh viện, tại phòng trọ, đặc biệt có cả những ca tử vong khi đang đi trên đường – điều mà trước đây rất hiếm khi xảy ra. Tuy nhiên cơ quan chức năng vẫn cho rằng những ca này không liên quan đến dịch cúm Vũ Hán mà là do các bệnh lý khác như não, thận tiểu đường tuýp 3, trúng gió…

Từ khi ca nhiễm đầu tiên phát hiện ở Việt Nam vào khoảng 20/1 cho đến ca thứ 16 vào ngày 13/2, tâm lý xã hội nói chung là cảnh giác nhưng bình tĩnh. Sau giai đoạn cảnh giác ban đầu thì cùng với sự tự hào về khả năng kiểm soát dịch của chính quyền lại sinh ra tâm lý chủ quan. Nhiều người ra đường không quan tâm đến việc đeo khẩu trang nữa và các quán ăn, siêu thị đã nhộn nhịp trở lại.

Giai đoạn sau 5/3 

Thế mà chỉ cần thêm một ca nữa thì tình hình lại khác hẳn. Ca thứ 17 được phát hiện vào ngày 6/3 có sức nặng hơn tất cả các ca trước đó cộng lại. Ngay trong ngày, lãnh đạo Hà Nội họp gấp bất kể đã 10 giờ đêm. Báo chí gọi đây là tình huống đặc biệt. Rất nhanh chóng, ngày hôm sau người ta công bố thêm 3 ca nữa và sáng sớm ngày hôm nay, 8/3 công bố ca thứ 21. Cuối buổi chiều cùng ngày thêm 8 ca nữa nâng tổng số người bị nhiễm dịch lên 29.

Điều đặc biệt khó hiểu là tâm lý trong nhân dân. Chưa bao giờ thấy người dân Hà Nội hoảng loạn đến thế. Thời kỳ Mỹ ném bom B52 vào tháng 12 năm 1972 hay Trung Quốc tấn công xâm lược ngày 17 tháng 2 năm 1979, người dân Hà Nội bình tĩnh hơn nhiều. Có lẽ, họ có cảm giác điều phải đến đã đến.

Người ta chen nhau đi mua hàng dự trữ. Hàng đối phó với dịch bao gồm thực phẩm, rau quả, lương thực và khẩu trang, giấy vệ sinh… Giá cả ngày 7/3 tăng gấp đôi ngày thường. Thịt lợn có chợ lên tới 400 nghìn/kg. Chỉ trong buổi sáng, các chợ hay siêu thị đã hết sạch những mặt hàng thiết yếu.

Rất khó giải thích tâm lý này. Ai cũng hiểu, hàng hóa hiện nay rất dồi dào, luôn đáp ứng đầy đủ và kịp thời nhu cầu của người tiêu dùng. Virus Vũ Hán gây bệnh chứ không thể ăn được hàng hóa mà cần tranh giành với nó. Người ta vét hàng tích trữ, tranh giành lẫn nhau. Việc tích trữ hàng vô cùng nguy hiểm vì chắc chắn có một tỉ lệ nhỏ nào đó trong dân không tích trữ sẽ không có nhu yếu phẩm để sử dụng. Và như vậy có thể dẫn tới không chết vì dịch mà chết vì đói. Tích trữ sẽ gây ra sự khan hiếm giả tạo, làm cho thị trường rối loạn. Ngoài ra, việc vét hàng dự trữ còn dẫn đến phải dùng hàng quá “đát”…

Có lẽ người dân bị ảnh hưởng bởi thông tin từ chính quyền. Khi chính quyền trấn an, bằng lòng và tự hào với thành tích chống dịch bệnh thì người dân sinh ra chủ quan và khi họ tỏ ra nghiêm trọng thì người dân cũng hốt hoảng theo.

Còn về phía chính quyền, giải thích thế nào về việc ca 17 lại nghiêm trọng hơn tất cả các ca trước? Họ hẫng hụt tiếc nuối trước ý định công bố hết dịch nhưng thất bại hay lo ngại virus lây lan? Chắc là cả hai. Nhưng tại sao từ ca thứ 17, họ lại sốt sắng hơn hẳn trước? Đây là điều khó lý giải.

Qua cách đưa tin của truyền thông sẽ hiểu được chủ trương của nhà cầm quyền trước mỗi sự việc. Hay nói cách khác, truyền thông nhà nước là phát ngôn của nhà cầm quyền. Báo chí có nhiệm vụ định hướng, lèo lái dư luận. Có việc họ dẹp đi, có việc cho đưa tin hạn chế và cũng có việc thổi phồng lên nếu đó được coi là thành tích. Chính ông Vũ Đức Đam, trong một video được đài RFA công bố (báo chí VN không nhắc đến việc này) cũng yêu cầu báo chí không tuyên truyền rộng kịch bản 30 nghìn người nhiễm dịch sợ nhân dân hoang mang. Từ đó có thể hiểu, mọi sự kiện diễn ra, nói hay không, nói ở mức độ nào là do chủ trương của nhà nước nên không thể hy vọng có thông tin đầy đủ, khách quan từ báo chí. Trước những thông tin báo chí đưa ra, công chúng cần có sự đánh giá, phân tích, nhìn nhận riêng của mình. Mỗi người cần chủ động trong việc đối phó với đại dịch Vũ Hán, không nên bị động chạy theo truyền thông một cách đơn thuần, ví dụ không nên tích trữ hàng quá mức cần thiết.

Trở lại sự nghiêm trọng của ca nhiễm dịch Vũ Hán thứ 17, trên mạng xã hội có một luồng ý kiến mà dễ nhận được sự tán đồng. Đó là thông tin ngày 5/3, Quỹ Tiền tệ Quốc tế (mà VN là thành viên) công bố sẽ cấp khoảng 50 tỷ USD để giúp các nước ứng phó với dịch Covid-19. Vì vậy VN không khăng khăng với con số 16 thần thánh nữa.

Nếu vậy thì đáng sợ thật. Số phận con người lại được quyết định bởi những điều đơn giản thế sao?

Nguyễn Tường Thụy

Nguồn: Việt Nam Thời Báo

 

Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print

BÀI MỚI

Sách "Chuyện với Thanh" và tác giả Nguyễn Thành Nam

Xã hội sẽ “tử tế” kiểu gì khi “hoàn lưu” những cuộc đấu tố trở lại?

Gieo nỗi sợ, người ta sẽ gặt được sự giả dối. Gieo đấu tố, người ta sẽ gặt sự phản trắc. Gieo thói quen kết tội người khác để bảo vệ mình, người ta sẽ tạo ra một xã hội trong đó không ai thực sự bảo vệ ai. Đến một ngày nào đó, khi chính quyền cần sự dấn thân, lòng can đảm và tinh thần trách nhiệm của công dân, điều họ nhận lại có thể chỉ là những khuôn mặt im lặng, những lời nói theo mẫu và một xã hội đã rút hết sinh khí vào bên trong.

Cuốn sách "Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng" bị thu hồi và tiêu hủy. Ảnh: Nhà xuất bản Hội Nhà Vă

Vụ Nguyễn Thành Nam và màn kịch bệnh hoạn của cả một xã hội

Càng theo dõi diễn biến của vụ việc Nguyễn Thành Nam, người ta càng nhận ra đây không phải là một vụ án “thông thường.” Điều khiến nó trở nên đặc biệt không nằm ở điều luật được áp dụng, mà nằm ở chính con người bị áp dụng điều luật ấy.

Bởi lần đầu tiên trong nhiều thập niên, một người từng công khai giảng dạy môn Tư tưởng Hồ Chí Minh, viết sách với mong muốn làm cho người trẻ hiểu và yêu Hồ Chí Minh hơn, lại bị cáo buộc là người “tuyên truyền chống Nhà nước.”

Ông Tô Lâm phát biểu tại Hội nghị Sơ kết 1 năm vận hành cơ chế mới tổ chức vào ngày 1 tháng 7, 2026. Ảnh chụp từ trang mạng Thể Thao & Văn Hóa

Điểm nghẽn của chế độ Tô Lâm

Điểm nghẽn lớn nhất của Việt Nam hôm nay không còn chỉ là thể chế hay năng lực thực thi. Điểm nghẽn sâu xa hơn là mục tiêu phát triển.

Một quốc gia sẽ đi theo đúng mục tiêu mà nó lựa chọn. Nếu mục tiêu cao nhất là duy trì quyền lực, thì mọi chính sách cuối cùng sẽ phục vụ cho việc bảo vệ quyền lực. Nhưng nếu mục tiêu cao nhất là con người và dân tộc Việt Nam, thì toàn bộ hệ thống chính trị, giáo dục, kinh tế và văn hóa sẽ phải được tổ chức lại để khai mở tiềm năng của con người.

Thủ đô Seoul của Hàn Quốc. Quốc gia này là một trong số những ví dụ thành công về việc thoát khỏi “bẫy thu nhập trung bình.” Ảnh: Gije Cho - Pexels

Bẫy thu nhập trung bình

Cái bẫy này người ta gọi là Bẫy thu nhập trung bình, thuật ngữ do hai nhà kinh tế Indermit Gill và Homi Kharas đặt ra năm 2007, khi họ đang nghiên cứu chiến lược phát triển cho các nước Đông Á.

Ý tưởng cốt lõi thì đơn giản thôi: Một quốc gia nghèo có thể tăng trưởng khá nhanh nhờ mấy lợi thế có sẵn, tài nguyên, nhân công rẻ, hay viện trợ nước ngoài. Nhưng đến một ngưỡng nào đó, mọi thứ chững lại. Lương tăng lên rồi, thế là mất luôn lợi thế “rẻ.”