Việt Nam đang trở thành bãi rác của thế giới

Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print
Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print

Trung Quốc đã nói không với nhập khẩu rác thải. Trong khi đó tại Việt Nam, với sự tiếp tay của các quan chức CSVN táng tận lương tâm, trở thành nơi chứa rác thải từ khắp nơi trên thế giới đổ vào ngày trở nên nghiêm trọng.

Tại buổi họp báo về công tác quản lý phế liệu nhập khẩu ngày 30 tháng Bảy vừa qua, ông Âu Anh Tuấn, quyền Cục trưởng Cục Giám sát quản lý về hải quan cho biết, sau khi Trung Quốc thực hiện chính sách cấm nhập khẩu 24 loại phế liệu, ngay lập tức các doanh nghiệp ở Việt Nam ồ ạt nhập khẩu các loại rác này về làm nguyên liệu sản xuất. Cụ thể, trong nửa đầu năm 2018, cả nước đã nhập khoảng 4 triệu tấn với tổng giá trị nhập khẩu phế liệu là 1,2 tỷ USD, nghĩa là mỗi tháng người Việt bỏ ra 200 triệu USD để nhập phế liệu.

Phải kể đến những mặt hàng được kiểm soát nghiêm ngặt bởi công ước Basel, như là ắc quy chì, túi nilon, sợi hóa học thu gom từ các bãi rác, ô nhiễm và mùi hôi thối nồng nặc vẫn cứ nườm nượp được cung cấp cho những làng nghề “mổ” ôtô, ắc quy, thiết bị điện tử… ở miền Bắc. Nguy hiểm nhất là các loại sắt thép từ máy móc cũ thuộc các công trình, nhà máy hóa chất được thải loại nhập khẩu tràn lan về Việt Nam chưa qua xử lý.

Ngoài rác thải sinh hoạt, hiện nay Việt Nam còn phải đối mặt với bài toán rác công nghệ qua mỹ từ “chuyển giao công nghệ” từ Trung Quốc. Điển hình nhất là các nhà máy xi măng và nhiệt điện than được xây dựng bởi Trung Quốc như: Trung tâm nhiệt điện Long An, nhà máy nhiệt điện Quảng trạch 1, 2, BOT nhà máy nhiệt điện Vũng Áng 2, dự án BOT nhà máy nhiệt điện Nghi Sơn 2 đang gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng.

Bên cạnh đó, theo thống kê của các chuyên gia môi trường, hoạt động nhập khẩu phế liệu, rác thải nguy hại bằng nhiều con đường khác nhau đang từng ngày từng giờ tuồn về Việt Nam ngày càng tinh vi. Vì lòng tham, vì lợi nhuận, nhiều doanh nghiệp đã nhập khẩu hàng ngàn container rác phế liệu gây ô nhiễm môi trường vào các cảng ở Việt Nam như Cảng Sài Gòn, Cảng Hải Phòng, Quảng Ninh… Trong khi có không dưới 4 Bộ quản lý nguồn rác nhập khẩu. Liệu có chuyện “con voi chui lọt lỗ kim” hay đây chính xác là sự cấu kết với quan chức CSVN tham nhũng và các doanh nghiệp trong nước, biến các cảng biển của Việt Nam thành bãi đáp rác thải?

Nhập khẩu phế liệu tác động rất xấu đến môi trường. Nó có thể mang lại sự sung túc cho số ít cá nhân, nhưng từ đó cũng xuất hiện những ngôi làng ung thư, khối căn bệnh lạ khiến y học bó tay. Cho đến hiện nay, nhiều nước đã nói không với nhập khẩu phế liệu.

Theo các chuyên gia, Việt Nam không đủ năng lực công nghệ để xử lý chất thải. Đồng thời, việc tái chế phế liệu của Việt Nam chưa có sự tham gia của ngành công nghiệp phụ trợ, mà chủ yếu được thực hiện bởi những cơ sở nhỏ lẻ, công nghệ xử lý lạc hậu. Nên Việt Nam cần phải nói không với nhập khẩu chất thải, vì nếu không được xử lý một cách khoa học, sẽ gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng.

Tại Việt Nam, nguy cơ về môi trường đang trở thành mối lo thường trực. Nó không chỉ gây ảnh hưởng xấu đến đời sống và sức khỏe người dân, mà sẽ là nguồn cơn cho bất mãn xã hội. Nguyên nhân dẫn đến tình trạng trên là do vấn đề quản lý của chính quyền lỏng lẽo, thậm chí là tiếp tay cho nhiều doanh nghiệp có những hành vi gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng. Vì vậy cần phải xem xét nghiêm túc của các bên liên quan, cụ thể là trách nhiệm của Bộ Công thương trong việc cho phép nhập khẩu các container rác thải này.

Đặc biệt, nguyên nhân quan trọng hơn đó là sự hám lợi của nhiều quan chức nhận tiền làm ngơ cho doanh nghiệp nhập rác về Việt Nam. Việc này cần phải được làm rõ và xử lý nghiêm, tránh tình trạng lợi ích lọt túi một số nhóm người, còn người dân phải gánh chịu hàng nghìn thứ bệnh và còng lưng bỏ tiền khắc phục hậu quả.

Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print

BÀI MỚI

Sách "Chuyện với Thanh" và tác giả Nguyễn Thành Nam

Xã hội sẽ “tử tế” kiểu gì khi “hoàn lưu” những cuộc đấu tố trở lại?

Gieo nỗi sợ, người ta sẽ gặt được sự giả dối. Gieo đấu tố, người ta sẽ gặt sự phản trắc. Gieo thói quen kết tội người khác để bảo vệ mình, người ta sẽ tạo ra một xã hội trong đó không ai thực sự bảo vệ ai. Đến một ngày nào đó, khi chính quyền cần sự dấn thân, lòng can đảm và tinh thần trách nhiệm của công dân, điều họ nhận lại có thể chỉ là những khuôn mặt im lặng, những lời nói theo mẫu và một xã hội đã rút hết sinh khí vào bên trong.

Cuốn sách "Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng" bị thu hồi và tiêu hủy. Ảnh: Nhà xuất bản Hội Nhà Vă

Vụ Nguyễn Thành Nam và màn kịch bệnh hoạn của cả một xã hội

Càng theo dõi diễn biến của vụ việc Nguyễn Thành Nam, người ta càng nhận ra đây không phải là một vụ án “thông thường.” Điều khiến nó trở nên đặc biệt không nằm ở điều luật được áp dụng, mà nằm ở chính con người bị áp dụng điều luật ấy.

Bởi lần đầu tiên trong nhiều thập niên, một người từng công khai giảng dạy môn Tư tưởng Hồ Chí Minh, viết sách với mong muốn làm cho người trẻ hiểu và yêu Hồ Chí Minh hơn, lại bị cáo buộc là người “tuyên truyền chống Nhà nước.”

Ông Tô Lâm phát biểu tại Hội nghị Sơ kết 1 năm vận hành cơ chế mới tổ chức vào ngày 1 tháng 7, 2026. Ảnh chụp từ trang mạng Thể Thao & Văn Hóa

Điểm nghẽn của chế độ Tô Lâm

Điểm nghẽn lớn nhất của Việt Nam hôm nay không còn chỉ là thể chế hay năng lực thực thi. Điểm nghẽn sâu xa hơn là mục tiêu phát triển.

Một quốc gia sẽ đi theo đúng mục tiêu mà nó lựa chọn. Nếu mục tiêu cao nhất là duy trì quyền lực, thì mọi chính sách cuối cùng sẽ phục vụ cho việc bảo vệ quyền lực. Nhưng nếu mục tiêu cao nhất là con người và dân tộc Việt Nam, thì toàn bộ hệ thống chính trị, giáo dục, kinh tế và văn hóa sẽ phải được tổ chức lại để khai mở tiềm năng của con người.

Thủ đô Seoul của Hàn Quốc. Quốc gia này là một trong số những ví dụ thành công về việc thoát khỏi “bẫy thu nhập trung bình.” Ảnh: Gije Cho - Pexels

Bẫy thu nhập trung bình

Cái bẫy này người ta gọi là Bẫy thu nhập trung bình, thuật ngữ do hai nhà kinh tế Indermit Gill và Homi Kharas đặt ra năm 2007, khi họ đang nghiên cứu chiến lược phát triển cho các nước Đông Á.

Ý tưởng cốt lõi thì đơn giản thôi: Một quốc gia nghèo có thể tăng trưởng khá nhanh nhờ mấy lợi thế có sẵn, tài nguyên, nhân công rẻ, hay viện trợ nước ngoài. Nhưng đến một ngưỡng nào đó, mọi thứ chững lại. Lương tăng lên rồi, thế là mất luôn lợi thế “rẻ.”