Vụ tàu hải cảnh Trung – Việt ‘đối đầu’ ở Bãi Tư Chính ‘vẫn rất căng thẳng’

Tàu Hải Dương 8 (Haiyang Dizhi 8) của Trung Cộng đã vào vùng biển gần rạn san hô do Việt Nam kiểm soát để thực hiện cuộc khảo sát địa chấn từ ngày 3 tháng Bảy 2019. Ảnh: Ryan Martinson
Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print
Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print

Một chuyên gia về hải quân Trung Quốc của Mỹ, người đầu tiên công bố thông tin tàu hải cảnh của Việt Nam và Trung Quốc “vờn nhau” nhiều ngày qua ở Bãi Tư Chính trên Biển Đông, nói rằng tình hình vẫn “rất căng thẳng” và vụ việc này “có thể xấu đi”.

Ông Ryan Martinson, giảng viên tại Trường Hải Chiến Hoa Kỳ, hôm 17 tháng Bảy nói với VOA tiếng Việt rằng Trung Quốc “quyết tâm ngăn chặn Việt Nam khai thác tài nguyên dưới đáy biển”, sau khi Hà Nội “cho phép công ty dầu khí Nga Rosneft thuê giàn khoan dầu của Nhật là Hakuryu 5 để khoan thăm dò vùng biển nằm ở phía Tây của Bãi Tư Chính”.

Dựa trên các dữ liệu liên quan, nhà nghiên cứu về hải quân Trung Quốc nói thêm rằng Bắc Kinh mấy ngày qua “rõ ràng đã tìm cách gây áp lực để buộc Việt Nam ngừng các hoạt động ở đó” bằng cách “triển khai các tàu của cảnh sát biển tới gần Hakuryu 5 để đe dọa” cũng như sử dụng tàu Haiyang Dizhi 8 “thực hiện việc khảo sát địa chấn ở phía bắc của giàn khoan dầu” với “sự hộ tống của các tàu cảnh sát biển, mà một số vũ trang hùng hậu”.

Sáng Kiến Minh Bạch Hàng Hải Châu Á thuộc Trung Tâm Nghiên Cứu Chiến Lược và Quốc Tế ở thủ đô Washington hôm 16 tháng Bảy cũng công bố một nghiên cứu chi tiết về các hành động mang tính “đe dọa” này của Trung Quốc.

Ông Ryan Martinson trên một tàu hải cảnh trong một chuyến thăm Trung Quốc.
Ông Ryan Martinson trên một tàu hải cảnh trong một chuyến thăm Trung Quốc.

Theo các dữ liệu thu được cũng như các nguồn tin, ông Martinson cho biết rằng tới ngày 17 tháng Bảy, tàu Haiyang Dizhi 8 “vẫn đang khảo sát vùng biển thuộc quyền tài phán của Việt Nam nên tình hình vẫn rất căng thẳng”.

Chuyên gia về hải quân Trung Quốc nhận định rằng “chưa rõ Trung Quốc sẽ hành động như thế nào nếu Việt Nam từ chối ngưng hoạt động thăm dò” cũng như “Việt Nam sẽ làm gì để cản trở cuộc khảo sát địa chấn” của Trung Quốc.

Ông Martinson cũng đề cập tới vụ Trung Quốc năm 2014 đưa giàn khoan dầu Hải Dương 981 vào khu vực lãnh hải tranh chấp ở Biển Đông mà Việt Nam nói là vùng đặc quyền kinh tế của mình và cho rằng hành động “quyết liệt” của phía Việt Nam khi đó “có thể dễ dàng leo thang thành một cuộc đụng độ vũ trang”. Sự việc xảy ra 5 năm trước đã dẫn tới nhiều cuộc biểu tình, một số mang tính bạo lực, của người Việt khắp nơi.

Giàn khoan HD 981 của Trung Cộng.
Giàn khoan HD 981 của Trung Cộng.

“Nếu theo đúng những gì từng xảy ra trong lịch sử, Trung Quốc nhiều khả năng có thể cũng có các hành động khác nữa, kể cả triển khai các tàu chiến và máy bay của hải quân ở gần nơi đối đầu”, ông nói.

Theo ông Martinson, vụ việc là “chiến dịch mới nhất của Trung Quốc nhằm duy trì tuyên bố chủ quyền lãnh hải trên diện rộng ở Biển Đông” bằng việc sử dụng các lực lượng bán vũ trang như hải cảnh và dân quân chứ không phải quân sự, vốn có thể dẫn tới “nhiều nguy cơ hơn cũng như gây tổn hại tới danh tiếng của Trung Quốc”.

“Trong diễn biến gần Bãi Tư Chính, Trung Quốc đã phô trương khả năng mới được tăng cường kể từ năm 2014. Nhiều loại tàu hải cảnh mới hơn và được vũ trang hùng hậu được sử dụng để đe dọa Việt Nam”, ông Martinson nói.

“Trong ít nhất một trường hợp, một tàu hải cảnh của Trung Quốc đã sử dụng căn cứ quân sự mới của Trung Quốc tại Fiery Cross Reef [Đá Chữ Thập] để tiếp nhiên liệu. Điều này cho thấy giá trị của các cơ sở mới để hỗ trợ việc cưỡng ép [nước khác] của Trung Quốc ở vùng chưa phân định rõ ràng. Đây cũng là vụ việc lớn đầu tiên kể từ khi lực lượng Hải cảnh Trung Quốc được đặt dưới sự kiểm soát của Lực lượng Cảnh sát Vũ trang Trung Quốc từ năm 2018. Việc tái cơ cấu đó đã dẫn tới việc quân sự hóa lực lượng Hải Cảnh Trung Quốc”.

Trong tuyên bố gửi cho một số cơ quan báo chí, trong đó có VOA tiếng Việt, hôm 16 tháng Bảy, người phát ngôn Bộ Ngoại Giao Việt Nam Lê Thị Thu Hằng không đề cập tới cụ thể tới Trung Quốc hay vụ việc xảy ra ở Bãi Tư Chính mà chỉ nói tới “diễn biến gần đây ở Biển Đông” với sự can dự của “nước ngoài”.

“Mọi hoạt động của nước ngoài trên các vùng biển Việt Nam nếu không được phép của Việt Nam đều vô giá trị, xâm phạm vùng biển Việt Nam, vi phạm luật pháp quốc tế và Công ước của Liên Hợp Quốc về Luật Biển 1982”, bà Hằng nói trong thông cáo, đồng thời nói thêm rằng Hà Nội đã “triển khai đồng bộ các biện pháp hòa bình để giải quyết vấn đề, đấu tranh yêu cầu tôn trọng vùng biển Việt Nam, các quyền và lợi ích hợp pháp của Việt Nam trên vùng biển của mình, không có hành động làm phức tạp tình hình”.

Trong khi đó, hôm 17 tháng Bảy, trong một cuộc họp báo thường kỳ ở Bắc Kinh, phát ngôn viên Bộ Ngoại Giao Trung Quốc Cảnh Sảng yêu cầu Việt Nam “nghiêm túc tôn trọng chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán của Trung Quốc đối với các vùng lãnh hải liên quan và không có bất kỳ hành động nào làm phức tạp tình hình”.

Trả lời VOA tiếng Việt về sự việc xảy ra giữa tàu Việt Nam và Trung Quốc, phát ngôn viên của Lầu Năm Góc, ông David W. Eastburn “không bình luận về bất cứ điều gì có thể xảy ra hoặc không, đặc biệt nếu Mỹ không liên quan”.

Hồi đầu tháng này, ông Eastburn lên tiếng về việc Trung Quốc phóng thử tên lửa ở Biển Đông, coi đó là điều “đáng ngại” và “trái với” cam kết của Bắc Kinh với Hoa Kỳ về việc không quân sự hóa vùng biển tranh chấp. Mỹ từng thực hiện nhiều hoạt động khẳng định quyền tự do hàng hải ở Biển Đông, khiến Trung Quốc phản ứng giận dữ.

Chủ tịch Quốc hội Việt Nam Nguyễn Thị Kim Ngân hôm 12 tháng Bảy kết thúc chuyến thăm kéo dài bốn ngày tới Trung Quốc trong bối cảnh xuất hiện tin tức trên mạng xã hội về vụ tàu chấp pháp hai nước “vờn nhau” gần Bãi Tư Chính. Hiện chưa rõ đây là chuyến đi đã được thu xếp từ trước hay được thực hiện vì vụ “đối đầu”.

Theo truyền thông nhà nước của hai quốc gia, Chủ Tịch Trung Quốc Tập Cận Bình kêu gọi Bắc Kinh và Hà Nội “nhìn vào đại cục” và đưa quan hệ hữu nghị giữa hai nước lên tầm cao mới, trong khi Việt Nam nói Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Kim Ngân đã có những cuộc trao đổi “thẳng thắn” ở Bắc Kinh.

Viễn Đông

Nguồn: VOA

 

Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print

BÀI MỚI

Sách "Chuyện với Thanh" và tác giả Nguyễn Thành Nam

Xã hội sẽ “tử tế” kiểu gì khi “hoàn lưu” những cuộc đấu tố trở lại?

Gieo nỗi sợ, người ta sẽ gặt được sự giả dối. Gieo đấu tố, người ta sẽ gặt sự phản trắc. Gieo thói quen kết tội người khác để bảo vệ mình, người ta sẽ tạo ra một xã hội trong đó không ai thực sự bảo vệ ai. Đến một ngày nào đó, khi chính quyền cần sự dấn thân, lòng can đảm và tinh thần trách nhiệm của công dân, điều họ nhận lại có thể chỉ là những khuôn mặt im lặng, những lời nói theo mẫu và một xã hội đã rút hết sinh khí vào bên trong.

Cuốn sách "Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng" bị thu hồi và tiêu hủy. Ảnh: Nhà xuất bản Hội Nhà Vă

Vụ Nguyễn Thành Nam và màn kịch bệnh hoạn của cả một xã hội

Càng theo dõi diễn biến của vụ việc Nguyễn Thành Nam, người ta càng nhận ra đây không phải là một vụ án “thông thường.” Điều khiến nó trở nên đặc biệt không nằm ở điều luật được áp dụng, mà nằm ở chính con người bị áp dụng điều luật ấy.

Bởi lần đầu tiên trong nhiều thập niên, một người từng công khai giảng dạy môn Tư tưởng Hồ Chí Minh, viết sách với mong muốn làm cho người trẻ hiểu và yêu Hồ Chí Minh hơn, lại bị cáo buộc là người “tuyên truyền chống Nhà nước.”

Ông Tô Lâm phát biểu tại Hội nghị Sơ kết 1 năm vận hành cơ chế mới tổ chức vào ngày 1 tháng 7, 2026. Ảnh chụp từ trang mạng Thể Thao & Văn Hóa

Điểm nghẽn của chế độ Tô Lâm

Điểm nghẽn lớn nhất của Việt Nam hôm nay không còn chỉ là thể chế hay năng lực thực thi. Điểm nghẽn sâu xa hơn là mục tiêu phát triển.

Một quốc gia sẽ đi theo đúng mục tiêu mà nó lựa chọn. Nếu mục tiêu cao nhất là duy trì quyền lực, thì mọi chính sách cuối cùng sẽ phục vụ cho việc bảo vệ quyền lực. Nhưng nếu mục tiêu cao nhất là con người và dân tộc Việt Nam, thì toàn bộ hệ thống chính trị, giáo dục, kinh tế và văn hóa sẽ phải được tổ chức lại để khai mở tiềm năng của con người.

Thủ đô Seoul của Hàn Quốc. Quốc gia này là một trong số những ví dụ thành công về việc thoát khỏi “bẫy thu nhập trung bình.” Ảnh: Gije Cho - Pexels

Bẫy thu nhập trung bình

Cái bẫy này người ta gọi là Bẫy thu nhập trung bình, thuật ngữ do hai nhà kinh tế Indermit Gill và Homi Kharas đặt ra năm 2007, khi họ đang nghiên cứu chiến lược phát triển cho các nước Đông Á.

Ý tưởng cốt lõi thì đơn giản thôi: Một quốc gia nghèo có thể tăng trưởng khá nhanh nhờ mấy lợi thế có sẵn, tài nguyên, nhân công rẻ, hay viện trợ nước ngoài. Nhưng đến một ngưỡng nào đó, mọi thứ chững lại. Lương tăng lên rồi, thế là mất luôn lợi thế “rẻ.”