Câu chuyện cách ly mùa dịch tại Việt Nam

Một điểm cách ly COVID-19 ở Việt Nam. Ảnh: Reuters
Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print
Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print

Số ca lây nhiễm Covid-19 vào ngày 26 tháng Sáu, 2021, tức đúng hai tháng sau khi đợt dịch thứ tư bộc phát từ ngày 27 tháng Tư, cả nước lần đầu tiên đạt kỷ lục 845 ca trong đó riêng tại TP.HCM lên đến 724 ca. Những biện pháp cách ly hay giãn cách dường như không còn mấy hiệu quả vì mầm dịch đã lan đầy trong xã hội.

Tuy cách ly trong thời gian dịch bệnh Covid-19 hoành hành là biện pháp gần như bắt buộc mà quốc gia nào cũng phải áp dụng để chống lại sự lây lan trong cộng đồng, nhất là trong thời gian đầu. Tuy nhiên tại Việt Nam gần đây, biện pháp cách ly lại gây ra nhiều phiền toái không đáng có cho người bệnh lẫn người cần theo dõi.

Câu chuyện cách ly của anh Thành Nguyễn về Cần Thơ từ Manila (Phi Luật Tân) ngày 28 tháng Tư được kể lại trên Đài Á Châu Tự Do, đã phơi bày cho người ta thấy tất cả sự thật không có gì tốt đẹp như lời khoa trương của nhà cầm quyền Việt Nam.

Theo lời kể lại của anh Thành Nguyễn, người trong cuộc cũng là nạn nhân, cho dù anh không bị dính Covid-19 nhưng theo đúng luật anh phải đi cách ly 21 ngày thay vì 14 ngày như trước đây. Điều này được mọi người trên chuyến bay chấp nhận; nhưng thật khó hiểu khi thời gian cách ly bị đẩy dần lên đến 49 ngày. Trong một xã hội bình thường, kiểu cách ly tùy tiện áp đặt này sẽ đưa kinh tế đến chỗ sụp đổ.

Khi đọc hết qua những điều chia xẻ của anh Thành, người ta thấy việc nhà nước Việt Nam chống dịch theo mục tiêu kép “diệt dịch bệnh đồng thời phát triển kinh tế” hoàn toàn chỉ là hô hào khẩu hiệu. Tới thời của Thủ Tướng Phạm Minh Chính lại cho thấy nỗ lực chống dịch của CSVN đúng là như chống giặc. Tưởng cũng nên nhắc lại trong buổi họp chính phủ tháng Tư vừa qua, ông Phạm Minh Chính tuyên bố như một tư lệnh chiến trường: “Chuyển trạng thái phòng chống dịch từ phòng ngự sang chủ động tấn công, song phải hài hòa giữa phòng ngự và tấn công.” Trong những ngày nóng bỏng của tháng Sáu, ông Phạm Minh Chính chưa cho thấy ông chủ động tấn công ra sao, bằng vũ khí gì mà người ta chỉ thấy lệnh phong tỏa tung ra hàng loạt khắp nơi.

Có thể thấy gì qua lời kể lại của anh Thành?

1/ Biện pháp cách ly rất máy móc thay vì phải uyển chuyển trong mục đích phục vụ người dân và bảo vệ cộng đồng.

Anh Thành và những người đi cùng chuyến bay từ Manila về cứ nghĩ là mình sẽ cách ly 21 ngày theo quy định mới nhất là coi như xong. Nhưng chuyện không đơn giản như vậy. Mà họ phải trải qua ít nhất vài lần di chuyển từ nơi này đến nơi khác với tổng cộng 49 ngày trong trại cách ly của quân đội trong tỉnh Sóc Trăng.

2/ Dùng ngáo ộp công an để bịt miệng người dân.

Với số ngày cách ly gần gấp 3 lần theo quy định, tâm lý con người bị ảnh hưởng nặng nề vì thấy mình bị đối xử không như một công dân bình thường. Khi có người gọi điện thoại cho Sở Y Tế Sóc Trăng và cả Bộ Y Tế để phàn nàn thì không được giải quyết hợp lý; gọi nhiều lần còn bị cán bộ đe dọa sẽ cho công an vào cuộc để điều tra.

3/ Không có tình người và không quan tâm gì đến đời sống gia đình người bị cách ly.

Thời gian cách ly càng dài gia đình họ càng điêu đứng, vì vừa phải lo nuôi thân nhân trong trại vừa lo cho mình. Bản thân người trở về cũng bị mất việc hoặc khó kiếm việc làm để phụ giúp gia đình.

4/ Làm tiền người dân.

Trại cách ly của Bộ Chỉ Huy Quân Sự Sóc Trăng tính tiền ăn mỗi ngày 80.000 đồng, phí sinh hoạt 40.000 đồng/ngày cộng với 700.000 đồng một lần xét nghiệm (7 lần). Tính ra anh Thành đã mất gần 10 triệu đồng cho thời gian cách ly. Đây là một lối moi móc tiền hợp pháp mà chỉ có cán bộ cộng sản mới làm được, ngay trong thời gian người dân chống chỏi một cách khó khăn với dịch bệnh khi chưa biết đến bao giờ mới được chích ngừa.

Trái với những lời khoe khoang của nhà cầm quyền cộng sản được khuếch đại từ Ban Tuyên Giáo, kiểu chống dịch này chỉ có hiệu quả khi mức độ lây lan còn ít và chưa lan tỏa trong cộng đồng. Vì thế trong các đợt lây nhiễm lần 1,2 và 3 trước đây, áp dụng kiểu cách ly này đã mang lại thành công. Nay với đợt thứ 4, mầm bệnh lan rộng trong xã hội, cách ly kiểu này không còn hạn chế được dịch mà còn tạo cơ hội cho cán bộ kéo dài thời gian để chấm mút.

Mặt khác, tình trạng này cũng làm cho cán bộ lãnh đạo lúng túng vì đã quen với hào quang thành công và thói quan liêu chống dịch trong những đợt trước. Điều này cũng cho thấy khả năng quản lý hành chính, quản lý y tế phòng ngừa của chính phủ là con số 0. Khả năng ấy ngày càng tệ hại và phát triển theo biến chứng của con virus!

Với tình hình hiện nay, để nhanh chóng diệt dịch và miễn dịch cộng đồng, Việt Nam cần phải thay đổi cách chống dịch và cách ly xã hội.

Một là chấm dứt những tuyên truyền mị dân như kiểu nói “về cơ bản, tỉnh A đã kiểm soát được dịch” hay “khoảng 10 ngày nữa thành phố B sẽ đẩy lùi dịch.” Những kiểu nói này chỉ phô diễn thành tích chống dịch “bằng cửa miệng” trong khi thực chất người dân muốn biết rõ là chính quyền đã lo vaccine tới đâu, hay cứu giúp những bà con nghèo như thế nào là điều quan trọng.

Hai là nên thay đổi cách cô lập những khu vực khi có một người bị tình nghi lây nhiễm vì chỉ làm cho đời sống của người dân trong khu vực gặp quá nhiều điều khó khăn. Việc kêu gọi người dân “giãn cách” để tránh lây lan nhưng nên đẩy mạnh việc thử nghiệm Covid-19 một cách đại trà như các quốc gia Phương Tây đã làm, để ngăn chặn trước những mầm bệnh trong xã hội.

Ba là chính quyền trung ương nên công bố gói cứu trợ đợt II đối với những người dân nghèo hay lao động bị mất việc như đã từng bỏ ra 65.000 tỷ đồng cứu trợ trong đợt I vào tháng Sáu, 2020. Đợt dịch của năm 2020 chỉ lây lan khoảng hơn 30 tỉnh thành, nay đã lên đến gần 50 tỉnh thành mà viễn cảnh kiểm soát được dịch vẫn còn quá khó khăn.

Nói tóm lại, lãnh đạo Hà Nội hãy chấm dứt những tuyên bố mang tính tuyên truyền mị dân. Hãy nói thật về sự kiêu ngạo “đã kiểm soát được dịch” dẫn đến sự chậm trễ trong việc đàm phán mua vaccine so với các nước khiến cho Việt Nam không thể nào đạt miễn dịch cộng đồng vào cuối năm 2021. Có nói thật và sám hối những sai lầm như vậy, người dân mới có thể hợp tác để cùng nhau vừa chống dịch, vừa tự khắc phục những khó khăn chung của xã hội.

Chính phủ của ông Phạm Minh Chính thiếu một lời xin lỗi đối với người dân về thảm trạng Covid-1 19 hiện nay.

Phạm Nhật Bình

Tham khảo:

https://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/53-day-quarantine-journey-of-a-returnee-during-covid-19-06222021184706.html

XEM THÊM:

 

Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print

BÀI MỚI

Tổng Thống Joe Biden (giữa) đón ông Fumio Kishida (phải), thủ tướng Nhật, và ông Ferdinand Marcos Jr, tổng thống Philippines, tại Toà Bạch Ốc, 12/4/2024. Ảnh: Andrew Caballero-Reynolds/AFP via Getty Images

Biden nỗ lực tăng cường liên minh Mỹ-Nhật-Philippines chống Trung Quốc

Hội nghị thượng đỉnh ba bên giữa Mỹ, Nhật Bản và Philippines gửi đi một thông điệp mạnh mẽ tới Trung Quốc, nhấn mạnh rằng hành động của Bắc Kinh bị xem là “sự đe dọa an ninh” và xem Trung Quốc là “kẻ ngoài lề trong khu vực.”

Các nhà lãnh đạo đồng minh nhấn mạnh cam kết tuân thủ luật pháp quốc tế ở Biển Đông và tuyên bố tuần tra chung ở Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương, thể hiện mặt trận thống nhất chống lại hành vi hung hãn của Trung Quốc.

Máy gặt lúa và đập lúa luôn. Tuy không hiện đại như bên Nhật hay các nước Âu châu, nhưng nó làm được việc và giảm gánh nặng cho nông dân. Trong tương lai thì chắc sẽ hoàn thiện hơn và những cái máy này sẽ có thương hiệu. Ảnh: FB Nguyễn Tuấn

Cơ giới hoá nông nghiệp… chậm còn hơn không*

Nhưng chậm còn hơn không. Tôi nghĩ nông dân Việt Nam rất sáng tạo và nếu môi trường thuận lợi, họ chẳng thua kém bất cứ ai. Bằng chứng là trong thời gian qua, quá trình cơ giới hoá đều do nông dân thực hiện, chứ không phải do các vị “sư sĩ” làm. Nông dân sáng chế ra máy móc và ứng dụng ngay trên những cánh đồng họ canh tác, chứ chẳng nhờ vào ‘đề tài cấp quốc gia’ nào.

Tổng thống Philippines Ferdinand Marcos Jr. (trái) phát biểu trong cuộc gặp với Tổng thống Mỹ Joe Biden, Phó Tổng thống Kamala Harris, Ngoại trưởng Antony Blinken và Thủ tướng Nhật Bản Fumio Kishida tại Phòng Đông của Nhà Trắng ở Washington, DC, ngày 11/4/2024. Ảnh: AFP

Marcos nói thỏa thuận ba bên Mỹ-Nhật-Philippines sẽ thay đổi thế cục ở Biển Đông

“Tôi nghĩ thỏa thuận ba bên này cực kỳ quan trọng,” ông Marcos nói trong cuộc họp báo ở Washington một ngày sau khi hội kiến Tổng thống Joe Biden và Thủ tướng Nhật Bản Fumio Kishida trong hội nghị thượng đỉnh ba bên đầu tiên giữa các nước.

“Nó sẽ thay đổi thế cục mà chúng ta thấy trong khu vực, ở ASEAN ở châu Á, quanh Biển Đông,” ông Marcos nói, nhắc đến Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á.

Tổng thống Biden và phu nhân (phải) và Thủ tướng Nhật Kishida và phu nhân tại White House 10/4/2024. Ảnh: AP/ Evan Vucci

Nhật Bản tăng cường liên minh với Mỹ để phòng ngừa Trung Quốc

Tokyo và Washington đều quyết tâm ngăn chặn Bắc Kinh thống trị Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương.

Sự ủng hộ mà chính quyền Biden dành cho Kishida vượt xa những hỗ trợ thông thường đối với một đồng minh thân cận. Dưới thời Kishida, Nhật Bản đã thực hiện một số thay đổi quan trọng nhất trong chính sách đối ngoại và an ninh kể từ Thế chiến II. Những thay đổi này được thúc đẩy bởi quyết tâm của người Nhật trong việc ngăn chặn một Trung Quốc chuyên chế thống trị Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương.