Đào tạo tồi thì cử nhân dở

Tỷ lệ thất nghiệp trong giới tốt nghiệp đại học, cao đẳng ngày càng cao.
Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print
Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print

Trong số 50.000 cử nhân công nghệ thông tin ra trường mỗi năm, chỉ có khoảng 30% làm việc được ngay, còn 70% phải đào tạo lại. Đó là con số được đưa ra bởi ông Bộ Trưởng Bộ Giáo Dục và Đào Tạo Phùng Xuân Nhạ.

Cuối tháng 3 vừa qua, trong buổi tọa đàm “Phát triển nguồn nhân lực ICT (Công nghệ thông tin và truyền thông) trình độ cao: Gắn kết cơ sở giáo dục đại học – doanh nghiệp” được tổ chức tại Hà Nội, ông Phùng Xuân Nhạ, sau khi đưa ra số liệu đáng buồn nói trên, thì khẳng định là sẽ quyết tâm làm khác, để việc đào tạo đi vào thực chất, góp phần phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao cho đất nước.

Thật trớ trêu trong bối cảnh xã hội đang khát nhân lực có chất lượng cao, phẩm chất tốt nhất để phát triển đất nước thì có hơn đến 2/3 số cử nhân ra trường phải đào tạo lại.

“Không hiếm trường hợp sinh viên ra trường không viết nổi một văn bản, nhiều doanh nghiệp phải đào tạo bổ sung nếu tuyển dụng sinh viên mới tốt nghiệp. Nhà trường chưa dành nhiều thời gian đào tạo kỹ năng mềm, người học thiếu tính chủ động, nên sản phẩm giáo dục chưa đáp ứng yêu cầu của nhà tuyển dụng và xã hội”, Đại Biểu Quốc Hội Phạm Trọng Nhân (Bình Dương) đã nhận định.

Tại sao lại có chuyện vô lý như vậy?

Hệ thống giáo dục và đào tạo tại Việt Nam không có định hướng. Đào tạo tràn lan, chạy bằng, xin điểm, thi đua thành tích, không màng gì đến mục đích căn cơ là đào tạo nhân sự chất lượng cao, phẩm chất tốt cho xã hội.

Theo Giáo Sư Phạm Minh Hạc, nguyên Bộ Trưởng Bộ GD& ĐT cho rằng “Giáo dục đại học rất quan trọng. Bởi nếu không tốt thì sẽ không ra được nguồn nhân lực như chúng ta mong muốn, không ra con người trí thức trẻ. Mình cứ nói ‘hiền tài là nguyên khí của quốc gia’, nhưng nếu không có người nối tiếp thì cũng không có nguyên khí. Một điều đáng lo lắng, thuộc về căn nguyên là không chỉ người dân mà ngay nhà nước vẫn có chính sách khuyến khích chạy theo bằng cấp.”

Một thực trạng hiện nay là rất nhiều sinh viên ra trường thất nghiệp lên đến 63%. Họ bị các doanh nghiệp từ chối tuyển dụng, trong đó có hai lý do khiến nhà tuyển dụng lo sợ như là không có định hướng nghề nghiệp rõ ràng hoặc thiếu các kỹ năng mềm cần thiết. Thậy vậy, nhiều trường đại học vẫn chưa xác định được kỹ năng cần thiết để trang bị cho sinh viên.

Thông thường trong 4 năm học của sinh viên thì năm nhất, năm hai khi bắt đầu bước vào đại học buộc phải học các môn đại cương gồm Triết học Mác Lê, tư tưởng Hồ Chí Minh, Kinh tế chính trị, Chủ nghĩa xã hội khoa học, lịch sử Đảng, Pháp luật đại cương, Tâm lý, Xác suất thống kê… được giảng dạy ở hầu hết các học viện, đại học, cao đẳng.

Thay vì mất thời gian học các môn học này, các sinh viên nên được đào tạo bài bản các môn học chuyên ngành ngay từ đầu cùng những kỹ năng sống, kỹ năng nghề nghiệp thì sẽ có nguồn nhân lực chất lượng cho xã hội chứ không phải là những tay mơ sau khi ra trường.

Tổ chức đào tạo sinh viên tốt để có lực lượng nhân chất lượng cao đáp ứng nhu cầu xã hội và là sức bật cho sự phát triển kinh tế. Tuy nhiên, trong môi trường giáo dục và đào tạo tại Việt Nam hoặc biến sinh viên trở thành con robot, hoặc thụ động, nhồi sọ, mang nặng tính giáo điều, lý thuyết suông.

Cơ chế xã hội nhồi nhét vào não trạng của học sinh, sinh viên quá nhiều điều theo chủ quan của nhà cầm quyền mà bất cần đến đích đến của họ trong tương lai. Dường như sinh viên bị triệt tiêu tư duy phản biện, khả năng sáng tạo tri thức rất nhiều trong giảng đường. Sinh viên có thể bị giáng phạt nếu đứng lên phản biện những điều phi logic, phi thực tế trong các môn học Triết học Mác Lê, tư tưởng Hồ Chí Minh, Kinh tế chính trị, Chủ nghĩa xã hội khoa học.

Con số 70% cử nhân công nghệ thông tin phải đào tạo lại sau 4 năm đại học cho thấy sản phẩm của một nền giáo dục không định hướng, không có triết lý và mang nặng tính kềm kẹp kéo dài hàng mấy thập niên qua.

Nó cũng cho thấy sự hoang phí nguyên khí quốc gia là con người, là trí tuệ. Cùng với thời gian dài đằng đẳng của hàng ngàn sinh viên trong suốt 4 năm học, và tài sản hàng ngàn tỉ đồng khổng lồ của phụ huynh học sinh tất cả ném xuống sông, xuống biển.

Nhà cầm quyền có dám để cho giáo dục phá bỏ tư duy, thói quen cũ để thay áo mới?

Có lẽ họ sợ hãi, hoảng hốt, sợ thay đổi hay rụt rè. Bởi khi đổi thay cơ chế đào tạo thì trí tuệ con người, tư duy xã hội, dân trí được nâng lên tầm cao mới, và lúc đó thì người dân sẽ phản biện mạnh mẽ hơn trước những thực tại bất công xảy ra trong xã hội. Như vậy nhà cầm quyền mất khả năng kiểm soát, dẫn đến tiêu vong.

5/4/2019

Paulus Lê Sơn

 

Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print

BÀI MỚI

Sách "Chuyện với Thanh" và tác giả Nguyễn Thành Nam

Xã hội sẽ “tử tế” kiểu gì khi “hoàn lưu” những cuộc đấu tố trở lại?

Gieo nỗi sợ, người ta sẽ gặt được sự giả dối. Gieo đấu tố, người ta sẽ gặt sự phản trắc. Gieo thói quen kết tội người khác để bảo vệ mình, người ta sẽ tạo ra một xã hội trong đó không ai thực sự bảo vệ ai. Đến một ngày nào đó, khi chính quyền cần sự dấn thân, lòng can đảm và tinh thần trách nhiệm của công dân, điều họ nhận lại có thể chỉ là những khuôn mặt im lặng, những lời nói theo mẫu và một xã hội đã rút hết sinh khí vào bên trong.

Cuốn sách "Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng" bị thu hồi và tiêu hủy. Ảnh: Nhà xuất bản Hội Nhà Vă

Vụ Nguyễn Thành Nam và màn kịch bệnh hoạn của cả một xã hội

Càng theo dõi diễn biến của vụ việc Nguyễn Thành Nam, người ta càng nhận ra đây không phải là một vụ án “thông thường.” Điều khiến nó trở nên đặc biệt không nằm ở điều luật được áp dụng, mà nằm ở chính con người bị áp dụng điều luật ấy.

Bởi lần đầu tiên trong nhiều thập niên, một người từng công khai giảng dạy môn Tư tưởng Hồ Chí Minh, viết sách với mong muốn làm cho người trẻ hiểu và yêu Hồ Chí Minh hơn, lại bị cáo buộc là người “tuyên truyền chống Nhà nước.”

Ông Tô Lâm phát biểu tại Hội nghị Sơ kết 1 năm vận hành cơ chế mới tổ chức vào ngày 1 tháng 7, 2026. Ảnh chụp từ trang mạng Thể Thao & Văn Hóa

Điểm nghẽn của chế độ Tô Lâm

Điểm nghẽn lớn nhất của Việt Nam hôm nay không còn chỉ là thể chế hay năng lực thực thi. Điểm nghẽn sâu xa hơn là mục tiêu phát triển.

Một quốc gia sẽ đi theo đúng mục tiêu mà nó lựa chọn. Nếu mục tiêu cao nhất là duy trì quyền lực, thì mọi chính sách cuối cùng sẽ phục vụ cho việc bảo vệ quyền lực. Nhưng nếu mục tiêu cao nhất là con người và dân tộc Việt Nam, thì toàn bộ hệ thống chính trị, giáo dục, kinh tế và văn hóa sẽ phải được tổ chức lại để khai mở tiềm năng của con người.

Thủ đô Seoul của Hàn Quốc. Quốc gia này là một trong số những ví dụ thành công về việc thoát khỏi “bẫy thu nhập trung bình.” Ảnh: Gije Cho - Pexels

Bẫy thu nhập trung bình

Cái bẫy này người ta gọi là Bẫy thu nhập trung bình, thuật ngữ do hai nhà kinh tế Indermit Gill và Homi Kharas đặt ra năm 2007, khi họ đang nghiên cứu chiến lược phát triển cho các nước Đông Á.

Ý tưởng cốt lõi thì đơn giản thôi: Một quốc gia nghèo có thể tăng trưởng khá nhanh nhờ mấy lợi thế có sẵn, tài nguyên, nhân công rẻ, hay viện trợ nước ngoài. Nhưng đến một ngưỡng nào đó, mọi thứ chững lại. Lương tăng lên rồi, thế là mất luôn lợi thế “rẻ.”