Đời cha bán gạo, đời con khát nước

Đồng ruộng ở ĐBSCL sau khi đắp đê. Ảnh: FB Nguyễn Huy Cường
Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print
Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print

(Bài tiếp theo về nước ở Đồng bằng sông Cửu Long)

Nếu bây giờ tập trung truy tìm nguyên nhân chính tạo nên khô hạn, thiếu nước ở Đồng bằng sông Cửu Long thì thật dễ dàng tìm ra vài lý do vừa thực vừa mơ hồ như:

Do biến đổi khí hậu

Do biến động ở thượng nguồn sông Mekong

Do ý thức người dân trong việc sử dụng nước

Vân vân.

Những nét này cái nào cũng thực nhưng có điều ít ai thấy, nó cũng là cái rất thực, dễ giải thích, dễ thực hiện đó là chính sách “An ninh lương thực” được nhấn mạnh khoảng gần hai chục năm nay.

Bài viết hôm nay sẽ làm sâu sắc vấn đề này.

Để dễ hình dung, ta hãy tưởng tượng đến một vùng nhỏ hơn, là một huyện. Huyện này mỗi năm tiêu dùng hết 100 tấn lương thực (Tôi giả định nên làm tròn số cho dễ hình dung). Để tạo được an ninh lương thực (ANLT), huyện phải sản xuất ra 150 tấn. Nếu mất mùa, sẽ đủ ăn qua một vụ. Là đủ.

Nếu để huyện này phải “bao” ANLT cho một …tỉnh, phải sản xuất ra 200 tấn. Tạm hiểu là gấp hai lần mức tiêu thụ cho dân huyện này. Còn thì các huyện khác cùng gánh vác.

Trở lại vấn đề sản xuất lương thực và tiêu dùng lương thực ở ĐBSCL.

Sản xuất lương thực của vùng ĐBSCL chiếm 49,6% sản lượng cây lương thực có hạt của cả nước, bình quân lương thực có hạt theo đầu người ở đây là 1.360 kg/năm.

Nên biết, về đại thể, mỗi người dân một năm chỉ tiêu thụ hết 150 kg gạo là cao, còn ở vùng đô thị chỉ 50 kg, đã dư. Bình quân theo tính toán của một nhà chuyên môn là khoảng 8 kg/tháng.

Như vậy, lượng lương thực ĐBSCL nếu để đáp ứng an ninh lương thực cho họ rồi còn dư khoảng 1.250 kg mỗi đầu người!

Khi vươn rộng ra hai chữ “Quốc gia” thì hơi khác.

Thử xem xét, nếu vùng này khó khăn, chỉ sản xuất ra một nửa số thóc trên, là khoảng 650 kg, ăn hết 150 kg, vẫn dư ra nửa tấn, thì sao? Thì mười bảy triệu dân ĐBSCL vẫn “nuôi” được một dân số gấp hơn ba lần dân vùng này, là khoảng 50 triệu người.

Số còn lại làm lấy mà ăn chứ!? Làm lấy mà giữ gìn An ninh lương thực chứ?

Số 45 tỉnh còn lại trong đó nhiều tỉnh có diện tích nông nghiệp khá lớn như Thái Bình, Vĩnh Phúc, Quảng Nam, Hưng Yên , Hải Dương, v.v… họ cùng gánh vác với Đồng bằng Nam bộ này chứ!?

Xin ngó sang một đại lượng khác để thấy câu chuyện này thực ra đã vượt ra khỏi mấy chữ cao quý “An ninh lương thực.” Đó là xuất khẩu gạo.

Việt Nam mười năm nay thường “Nhất thế giới, nhì thế giới” về xuất khẩu gạo! Nghe rất hào hứng. Nghe rất lạc quan. Nó vượt ra ngoài cái “Ngưỡng” giữ gìn ANLT rồi.

Nhưng.

Cần biết số tiền xuất khẩu bốn năm triệu tấn lương thực mỗi năm ít ý nghĩa về năng lực tài chính lắm.

Nêu để so sánh cụ thể, nó chưa bằng số tiền ta nhập phân hoá học, nhập các chất tiền chế để sản xuất phân hoá học, thuốc trừ sâu và mua thức ăn gia súc mỗi năm của Thái Lan đâu!

Ấy là nói chuyện với kiểu “Sông bằng nước phẳng” chứ nếu so với số tiền thất thoát từ vụ Trương Mỹ Lan thì số tiền bán bốn năm triệu tấn này “Không là cái đinh gì” theo cách nói của các cháu tuổi teen.

Cần nói thêm là, như năm 2023 thu được 4,8 tỷ USD từ tiền bán gạo. Ta thường tưởng là “Tiền bán gạo” là lợi nhuận nhưng đó là nói đại thể. Nếu nhìn sâu số tiền xem như “Lãi” thực của hai giới, giới Doanh nghiệp buôn bán gạo không hơn 500 triệu USD, giới nông dân trồng lúa thì thu được ít hơn nhiều.

Vậy thì số tiền còn lại trong 4,8 tỷ USD kia đi đâu?

Đó là nội dung cốt lõi trong bài hôm nay. Đó là tiền công lao động thủ công, tiền “bao” cả những vụ mất mùa, sâu bệnh, tiền mua phân hoá học vân vân.

Và tiền bán…nước.

Tôi đã bám rất sâu đề tài này (cùng với Đỗ Hồng Cường, Voọc Hành theo chân nhà khoa học) từ nhiều năm nay và không khó để nhận thấy: Để đáp ứng chủ trương “Tăng một triệu tấn lương thực” ở vùng ĐBSCL ta đã bắt đầu bằng cái nhìn dễ dãi theo kiểu ngạn ngữ xứ bắc nói “Càng bở càng đào.”

Ai đó cảm thấy muốn thêm một triệu hay ba triệu tấn gạo ở vùng này dễ như bỡn. Việc đầu tiên là đắp đê ép dòng sông hẹp lại, đồng ruộng rộng ra để có đất theo …chủ trương.

Có rất nhiều hệ quả xã hội khác mà trong bài này tôi chỉ kể thêm một nét.

Trước chủ trương này, hệ sinh thái nước vùng này phong phú vô cùng, sản lượng cũng rất lớn. Một bác nông dân đi thả lưới ba giờ về, đổ ra sân một đống tôm cá vợ con ngồi lựa vài giờ chưa hết. Số tôm cá ngon đem bán (Thu nhập cao hơn thóc lúa nhiều) số phụ phẩm còn lại làm mắm, chăn nuôi, thu nhập gia đình rất vững.

Từ ngày đắp đê, sông hẹp lại, tôm cá giảm xuống 20 lần so với trước, cuộc sống khó khăn hơn và con em họ lên thành phố ly hương để bán hương ngày càng nhiều.

Nước.

Vấn đề lớn nhất hiện nay là nước.

Khi chưa đắp đê, chưa đuổi mặt nước đi chơi chỗ khác, thì hai cánh đồng lớn nằm bên sông Tiền, sông Hậu có tư cách là hai hồ chứa nước ngọt khổng lồ. Nước ngọt từ sông Mekong đổ về chỉ hai ba trận mưa cuối mùa mưa đầu mùa khô là lấp đầy hai cái Siêu hồ này. Lượng nước này tồn lại “gối đầu” đủ cho dân sinh sống đến mùa mưa năm sau. Lượng nước này cũng đủ cho nguồn thủy hải sản bảo đảm cuộc sống người dân khá vững vàng.

Nhưng, điều tuyệt vời nhất là lượng nước này đủ để tạo sức ngăn chặn nước mặn từ biển xâm thực vào đồng bằng này. Đó là Sứ mệnh lịch sử, là giá trị không thể tính bằng USD của hai túi nước, hai “Siêu hồ chứa” nói trên.

Khi ta từ chối nguồn lợi này một là liều, hai là chưa …tính đến.

Tôi nghĩ, những tác giả của cú “Tăng một triệu tấn lương thực” dù là cấp nào, dù có học hàm học vị nào nhưng không thể thấu được nội dung này, không thấy được hiện tình hôm nay chính là cái “Quả” của cái “Nhân” có tên “tăng 1 triệu tấn” khi xưa.

Hiện nay, song hành với hiện tượng này thì còn có vùng café vĩ đại trên Tây nguyên. Mùa khô người ta hút hàng tỷ mét khối nước từ độ sâu hàng vài chục mét để có lượng café hiện nay, có lúc vươn lên hàng hai thế giới!

Người đời nói “Bể dâu” nhưng với cung cách làm ăn này từ nương cà phê Tây Nguyên có chung nguy cơ thiếu nước với vùng ĐBSCL là hiển hiện. Dâu sẽ thành bể, bể cạn!

Viết bài này, tôi thề là không phê phán ai, mà chỉ chỉ ra cái các cụ nói là “Thái quá bất cập” mà thôi.

Thấy, để hiểu ra, không đổ vấy cho trời cho đất.

Thấy để sau này, muốn xây dựng chính sách, làm ơn đi ra ngoài phòng máy lạnh, đến nơi cần thấy.

Ngày 17/4/2024

Huy Cường

Nguồn: FB Nguyễn Huy Cường

XEM THÊM:

 

Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print

BÀI MỚI

Admin trang Nhật Ký Yêu Nước (từ trái): Phan Tất Thành, Nguyễn Văn Dũng (Aduku) và Nguyễn Văn Lâm. Ảnh: FB Manh Dang

Tháng 5, tháng của các admin trang Nhật Ký Yêu Nước, những người sống không cúi đầu

Tương lai dân tộc này, chẳng phải đang viết bằng tuổi thanh xuân tù đày, nước mắt, xương máu và cả sinh mệnh của họ. Đừng mãi nhìn họ như những tấm gương nữa, để phí hoài tuổi thanh xuân và sự hy sinh của họ, mà hãy nhìn họ như những người bạn đồng chí hướng với mình để mà cùng gánh vác việc chung.

Non nước này, vốn có phải của riêng ai?

Ông Lý Thái Hùng phân tích bản chất của mô hình quản trị “bao cấp kỹ thuật số”

Bao cấp cũ kiểm soát người dân bằng tem phiếu, hộ khẩu, lý lịch, công an khu vực và tổ dân phố. Bao cấp mới kiểm soát người dân bằng căn cước công dân gắn chip, dữ liệu dân cư, camera, tài khoản số, hóa đơn điện tử, giấy phép hành nghề, chế tài hành chính, kiểm soát mạng xã hội và các mạng lưới an ninh cắm sâu xuống tận cấp xã…

Thủ tướng Nhật Bản Sanae Takaichi vẫy tay khi khởi hành chuyến thăm chính thức tới Việt Nam và Australia tại sân bay Haneda, Tokyo, hôm 1/5/2026. Ảnh minh họa: Kazuhiro Nogi/ AFP via Getty Images

Có thể ngưng cho thiên hạ ‘tựa’?

Nếu xem việc tự nguyện làm thuê cho ngoại nhân cả trên xứ sở của mình lẫn xứ người là “điểm tựa an ninh kinh tế” cho thiên hạ thì Việt Nam còn là “điểm tựa an ninh kinh tế” của Nam Hàn, Đài Loan! Hiện có khoảng 350.000 người Việt đang tha hương cầu thực ở Nam Hàn và khoảng 300.000 người Việt tương tự ở Đài Loan.

Ảnh minh họa: Chủ tịch tỉnh "quản" các bác sĩ từ 1/7/2026 theo Nghị quyết 21/2026/NQ-CP

Từ luật sư đến bác sĩ: “Thời vươn mình” hay thời… xuống hố cả nút?

Điều bi hài nằm ở chỗ, cùng lúc nhà nước liên tục nói về “kinh tế tri thức,” “cách mạng công nghiệp 4.0,” “AI,” “quốc gia số,” thì nền quản trị thực tế lại vận hành theo tinh thần rất… phong kiến: Cứ gom hết quyền về cho quan chức quản là yên tâm nhất. Có cảm giác như trong mắt cấu trúc quyền lực hiện nay, chuyên môn là thứ cần được quản thúc chứ không phải cần được tôn trọng. Càng là lĩnh vực có tính độc lập cao thì càng phải đưa vào vòng kiểm soát.