Khúc bi tráng Gạc Ma

Gạc Ma 14/3/1988: Không bao giờ quên! Ảnh: FB Việt Tân
Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print
Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print

Đã 34 năm (14/03/1988 – 14/03/2022), ngày Trung Quốc xâm lược đảo Gạc Ma và thực hiện cuộc thảm sát khiến 64 chiến sĩ Hải Quân Việt Nam hi sinh, ba tàu vận tải hải quân bị đánh chìm. Đến nay, sự hung hăng của Trung Quốc vẫn đang tiếp diễn với tham vọng chiếm gọn Biển Đông của Việt Nam.

Cuộc thảm sát Gạc Ma do quân đội Trung Quốc thực hiện vẫn còn nhiều điều chưa được sáng tỏ. Cũng giống như cuộc chiến tranh biên giới phía Bắc 1979, trận Gạc Ma đã không được nhà nước Việt Nam thông tin đầy đủ và ít được nhắc đến trên các phương tiện truyền thông và sách giáo khoa.

Theo thông tin từ nhiều nguồn, trận đánh Gạc Ma khiến phía Việt Nam bị thiệt hại 3 tàu vận tải do Trung Quốc bắn cháy và chìm, 3 người tử trận, 11 người khác bị thương, 70 người bị mất tích. Sau này Trung Quốc đã trao trả cho phía Việt Nam 9 người bị bắt, 61 người vẫn mất tích cũng được xem là đã tử trận.

Trong khi đó, phía Trung Quốc công bố thống kê rằng để chiếm được đảo Gạc Ma, họ đã bắn tổng cộng 285 quả đạn pháo 100mm và 266 viên đạn pháo 37mm, chưa kể các cỡ đạn nhỏ. Việc Trung Quốc dùng trọng pháo và súng phòng không để giết 64 chiến sĩ Hải Quân Việt Nam không có vũ khí phải được xem là một cuộc thảm sát.

Cuộc thảm sát Gạc Ma không chỉ cướp đi sinh mạng 64 chiến sĩ, khiến nhiều người bị giam cầm, mà còn bộc lộ những hạn chế trong việc bảo vệ chủ quyền của đất nước. Theo đó, chỉ vài phút đụng độ mà Việt Nam đã để mất hơn nửa đại đội. Thiệt hại nhân mạng như vậy được cho là có nguyên nhân từ mệnh lệnh “không được nổ súng” của Bộ Trưởng Quốc Phòng Lê Đức Anh lúc bấy giờ.

Ông Lê Đức Anh đã biến 64 chiến sĩ hải quân thành bia đỡ đạn sống. Trong khi đó, bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, bảo vệ tính mạng chiến sĩ và tài sản của nhân dân là trách nhiệm của người chỉ huy. Không thể có lý do nào biện minh cho hành động của một vị bộ trưởng thấy giặc xâm lấn đất nước lại ra lệnh người lính chiến không được bắn giặc. Đây đích thị là hành động phản quốc!

Lãnh đạo CS Việt Nam không chỉ đưa 64 chiến sĩ hải quân Việt Nam phơi thân mặc cho giặc Tàu bắn giết, đến nay thi thể của 56 người lính tay không có súng ấy vẫn còn nằm dưới đáy biển sâu lạnh lẽo xung quanh đảo Gạc Ma. Chưa từng thấy bất cứ nỗ lực nào được thực hiện nhằm cố gắng vớt thân xác đưa họ trở về đất liền, về với gia đình.

Đến nay, sau 34 năm chiếm đóng đảo Gạc Ma, quân đội Trung Quốc ráo riết xây dựng biển đảo này thành tiền đồn quân sự phục vụ cho âm mưu bá quyền. Cụ thể, Trung Quốc bồi đắp các bãi đá và rạn san hô, xây dựng trạm rada, đường băng dài 2.000 m, có thể triển khai các máy bay tân tiến như Su-30, J-11 và J-10 đến Trường Sa.

Ý đồ quân sự hoá đảo Gạc Ma không những giúp Trung Quốc củng cố các tuyên bố chủ quyền vô lý của nước này, mà còn cho phép Bắc Kinh tiến hành các hoạt động kiểm soát mặt biển, trên không ở Biển Đông và toàn bộ khu vực vịnh Malacca. Ngoài ra, Gạc Ma còn được dùng làm căn cứ hậu cần cho tàu hải quân để đi tuần sâu hơn xuống phía nam.

Quyết tâm bá quyền của Trung Quốc từ lâu đời và ngày càng lớn. Trong đó, đảo Gạc Ma là chìa khóa để Bắc Kinh hiện thực hoá yêu sách “đường lưỡi bò” và tham vọng “Tứ Sa”. Đây là những nguy cơ lớn nhất và đang hiện hữu, đe dọa toàn vẹn lãnh thổ của tổ quốc. Tuy nhiên, thay vì khuyến khích người dân cần có trách nhiệm phản đối hành động xâm lược của Bắc Kinh, nhà nước CSVN lại luôn coi vụ Gạc Ma là “nhạy cảm” và nhiều lần dùng vũ lực ngăn cản nhân dân tưởng niệm.

Đảo Gạc Ma đã mất vào tay Trung Quốc, người dân Việt Nam tri ân liệt sĩ ngã xuống vì tổ quốc là hành động chính đáng và cần nhà nước khuyến khích chứ không phải bị ngăn cản. Đảng Cộng Sản Việt Nam không được lẫn lộn hữu nghị với chủ quyền thiêng liêng!

Ngô Đồng

XEM THÊM:

 

Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print

BÀI MỚI

Sách "Chuyện với Thanh" và tác giả Nguyễn Thành Nam

Xã hội sẽ “tử tế” kiểu gì khi “hoàn lưu” những cuộc đấu tố trở lại?

Gieo nỗi sợ, người ta sẽ gặt được sự giả dối. Gieo đấu tố, người ta sẽ gặt sự phản trắc. Gieo thói quen kết tội người khác để bảo vệ mình, người ta sẽ tạo ra một xã hội trong đó không ai thực sự bảo vệ ai. Đến một ngày nào đó, khi chính quyền cần sự dấn thân, lòng can đảm và tinh thần trách nhiệm của công dân, điều họ nhận lại có thể chỉ là những khuôn mặt im lặng, những lời nói theo mẫu và một xã hội đã rút hết sinh khí vào bên trong.

Cuốn sách "Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng" bị thu hồi và tiêu hủy. Ảnh: Nhà xuất bản Hội Nhà Vă

Vụ Nguyễn Thành Nam và màn kịch bệnh hoạn của cả một xã hội

Càng theo dõi diễn biến của vụ việc Nguyễn Thành Nam, người ta càng nhận ra đây không phải là một vụ án “thông thường.” Điều khiến nó trở nên đặc biệt không nằm ở điều luật được áp dụng, mà nằm ở chính con người bị áp dụng điều luật ấy.

Bởi lần đầu tiên trong nhiều thập niên, một người từng công khai giảng dạy môn Tư tưởng Hồ Chí Minh, viết sách với mong muốn làm cho người trẻ hiểu và yêu Hồ Chí Minh hơn, lại bị cáo buộc là người “tuyên truyền chống Nhà nước.”

Ông Tô Lâm phát biểu tại Hội nghị Sơ kết 1 năm vận hành cơ chế mới tổ chức vào ngày 1 tháng 7, 2026. Ảnh chụp từ trang mạng Thể Thao & Văn Hóa

Điểm nghẽn của chế độ Tô Lâm

Điểm nghẽn lớn nhất của Việt Nam hôm nay không còn chỉ là thể chế hay năng lực thực thi. Điểm nghẽn sâu xa hơn là mục tiêu phát triển.

Một quốc gia sẽ đi theo đúng mục tiêu mà nó lựa chọn. Nếu mục tiêu cao nhất là duy trì quyền lực, thì mọi chính sách cuối cùng sẽ phục vụ cho việc bảo vệ quyền lực. Nhưng nếu mục tiêu cao nhất là con người và dân tộc Việt Nam, thì toàn bộ hệ thống chính trị, giáo dục, kinh tế và văn hóa sẽ phải được tổ chức lại để khai mở tiềm năng của con người.

Thủ đô Seoul của Hàn Quốc. Quốc gia này là một trong số những ví dụ thành công về việc thoát khỏi “bẫy thu nhập trung bình.” Ảnh: Gije Cho - Pexels

Bẫy thu nhập trung bình

Cái bẫy này người ta gọi là Bẫy thu nhập trung bình, thuật ngữ do hai nhà kinh tế Indermit Gill và Homi Kharas đặt ra năm 2007, khi họ đang nghiên cứu chiến lược phát triển cho các nước Đông Á.

Ý tưởng cốt lõi thì đơn giản thôi: Một quốc gia nghèo có thể tăng trưởng khá nhanh nhờ mấy lợi thế có sẵn, tài nguyên, nhân công rẻ, hay viện trợ nước ngoài. Nhưng đến một ngưỡng nào đó, mọi thứ chững lại. Lương tăng lên rồi, thế là mất luôn lợi thế “rẻ.”