Luật bảo vệ môi trường hay là luật bảo vệ ai khác đây?

Các đại biểu quốc hội bấm nút trong một lần biểu quyết. Ảnh: Internet
Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print
Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print

Luật bảo vệ môi trường hay là luật bảo vệ ai khác đây?

Đây là câu hỏi tôi đưa ra vào giờ “G” cho các Đại biểu Quốc hội, trước khi thảo luận thông qua “Dự thảo Luật Bảo vệ môi trường 2020” trong phiên ngày 17/11/2020!

Câu trả lời của tôi là: Bản Dự thảo Luật hiện tại đang có trong tay các đại biểu, với nội dung và chất lượng như vậy, thực chất là LUẬT BẢO VỆ “LỢI ÍCH CỦA CHỦ DỰ ÁN ĐẦU TƯ,” chứ không phải bảo vệ cho MÔI TRƯỜNG sinh thái, an toàn môi sinh, phát triển bền vững, sức khoẻ cho tất cả!

TẠI SAO VẬY?

Không muốn các đại biểu mất nhiều thời gian đọc, hãy chú ý vào mấy gợi ý của tôi dưới đây:

1. Đánh giá tác động môi trường là một hoạt động nghiên cứu khoa học, đòi hỏi có chuyên môn sâu, đa ngành, có phương pháp, đã có hướng dẫn cụ thể của Quốc tế, đặc biệt từ các tổ chức của Liên Hợp Quốc mà Việt Nam là thành viên! Đã có tài liệu chính thức của Tổ chức Phát triển của Liên Hợp Quốc UNDP, Tổ chức Y tế Thế giới WHO… hướng dẫn cụ thể từng bước về đánh giá tác động môi trường của các dự án can thiệp cộng đồng (dự án phát triển, dự án đầu tư…)

Hiện Luật không đi theo các hướng dẫn kỹ thuật này!

2. Chất lượng của đánh giá tác động môi trường (sơ bộ hay chính thức) hoàn toàn phụ thuộc vào chuyên môn và đạo đức bộ phận chịu trách nhiệm thực hiện.

Dự thảo luật hiện quy định CHỦ DỰ ÁN ĐẦU TƯ “tự” chịu trách nhiệm thực hiện “đánh giá sơ bộ tác động môi trường” (Điều 29, Mục 2, Chương IV) cũng như “đánh giá tác động môi trường” (Điều 31, Mục 3, Chương 4).

Kết hợp (1) và (2) , thể hiện, nội dung Dự thảo Luật hiện hành vi phạm nghiêm trọng cả về chuyên môn và đạo đức! Không đảm bảo khách quan, khoa học, thiên lệch cho lợi ích của chủ đầu tư!

3. Thẩm định báo cáo đánh giá tác động môi trường, thực chất là thẩm định một báo cáo nghiên cứu khoa học. Yêu cầu cao nhất là phải có thiết kế chuẩn thức, thu thập thông tin khách quan, phân tích phải đảm bảo chuyên môn phù hợp, độc lập.

Các quy định hiện tại trong Luật đang rất yếu về phần đảm bảo quy định nghiên cứu đánh giá và thẩm định khoa học khách quan –> Phải sửa lại.

Ba điểm trên phối hợp thêm các phần khác của dự luật, chẳng hạn như sự tham gia của công chúng (thu hẹp thành tham vấn cộng đồng) đang bị giới hạn chỉ cho 2 loại đối tượng: a) Cộng đồng dân cư, cá nhân chịu tác động trực tiếp bởi dự án đầu tư; b) Cơ quan, tổ chức có liên quan trực tiếp đến dự án đầu tư, (Điều 33, Mục 3)… thể hiện Dự thảo Luật đã làm thay đổi bản chất “nghiên cứu khoa học, khách quan” của hoạt động đánh giá tác động môi trường

Nguy cơ một khi chủ dự án đầu tư chịu trách nhiệm thực hiện đánh giá tác động môi trường của dự án đầu tư, thẩm định được quyết định bởi người xa thực tế (trên Bộ), dự án đầu tư tài liệu chuyên môn đánh giá tác động lại đa ngành, liệu thời gian quy định (1 tháng, 1,5 tháng) có đủ để “người của Bộ” đọc hiểu và ra được quyết định khách quan, chính xác, trên cơ sở “vì lợi ích môi trường” hay không?

Liệu khi chủ đầu tư lại có gắn nối với bộ phận thẩm định, thì lợi ích bảo vệ môi trường ai đứng ra bảo vệ? Khi mà, phản biện độc lập không được quy định trong luật là điều kiện bắt buộc với các dự án đầu tư nhóm 1, nhóm 2?

CÓ NÊN THÔNG QUA BẢN DỰ THẢO LUẬT “BẢO VỆ LỢI ÍCH CỦA CHỦ DỰ ÁN ĐẦU TƯ?”

Câu trả lời lúc này hoàn toàn phụ thuộc vào đạo đức của người đại biểu nhân dân!

Bởi về mặt chuyên môn, còn quá nhiều bằng chứng nữa, đã đưa ra trong các thư kiến nghị của các liên minh, đặc biệt thư của liên minh NCDs-VN ngày 9/11 và thư của 6 liên minh vừa gửi ngày hôm qua 16/11/2020, thể hiện DỰ THẢO LUẬT HIỆN TẠI MẤT CƠ BẢN NỀN TẢNG KHOA HỌC LUẬT BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG, “biến tướng” trở thành “LUẬT BẢO VỆ LỢI ÍCH CỦA CHỦ DỰ ÁN ĐẦU TƯ.”

Mong các Đại biểu Quốc hội trước giờ phút lịch sử này cân nhắc, và tin rằng, thà chưa thông qua, tổ chức lại tiến trình sửa đổi, đưa sang nghị trình kỳ họp thứ 11 năm 2021, còn hơn “thông qua” để rồi chịu ô danh để đời trước phán xét của giới khoa học!

Trần Tuấn
09h00, 17/11/2020

Nguồn: FB Tran Tuan

 

Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print

BÀI MỚI

Sách "Chuyện với Thanh" và tác giả Nguyễn Thành Nam

Xã hội sẽ “tử tế” kiểu gì khi “hoàn lưu” những cuộc đấu tố trở lại?

Gieo nỗi sợ, người ta sẽ gặt được sự giả dối. Gieo đấu tố, người ta sẽ gặt sự phản trắc. Gieo thói quen kết tội người khác để bảo vệ mình, người ta sẽ tạo ra một xã hội trong đó không ai thực sự bảo vệ ai. Đến một ngày nào đó, khi chính quyền cần sự dấn thân, lòng can đảm và tinh thần trách nhiệm của công dân, điều họ nhận lại có thể chỉ là những khuôn mặt im lặng, những lời nói theo mẫu và một xã hội đã rút hết sinh khí vào bên trong.

Cuốn sách "Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng" bị thu hồi và tiêu hủy. Ảnh: Nhà xuất bản Hội Nhà Vă

Vụ Nguyễn Thành Nam và màn kịch bệnh hoạn của cả một xã hội

Càng theo dõi diễn biến của vụ việc Nguyễn Thành Nam, người ta càng nhận ra đây không phải là một vụ án “thông thường.” Điều khiến nó trở nên đặc biệt không nằm ở điều luật được áp dụng, mà nằm ở chính con người bị áp dụng điều luật ấy.

Bởi lần đầu tiên trong nhiều thập niên, một người từng công khai giảng dạy môn Tư tưởng Hồ Chí Minh, viết sách với mong muốn làm cho người trẻ hiểu và yêu Hồ Chí Minh hơn, lại bị cáo buộc là người “tuyên truyền chống Nhà nước.”

Ông Tô Lâm phát biểu tại Hội nghị Sơ kết 1 năm vận hành cơ chế mới tổ chức vào ngày 1 tháng 7, 2026. Ảnh chụp từ trang mạng Thể Thao & Văn Hóa

Điểm nghẽn của chế độ Tô Lâm

Điểm nghẽn lớn nhất của Việt Nam hôm nay không còn chỉ là thể chế hay năng lực thực thi. Điểm nghẽn sâu xa hơn là mục tiêu phát triển.

Một quốc gia sẽ đi theo đúng mục tiêu mà nó lựa chọn. Nếu mục tiêu cao nhất là duy trì quyền lực, thì mọi chính sách cuối cùng sẽ phục vụ cho việc bảo vệ quyền lực. Nhưng nếu mục tiêu cao nhất là con người và dân tộc Việt Nam, thì toàn bộ hệ thống chính trị, giáo dục, kinh tế và văn hóa sẽ phải được tổ chức lại để khai mở tiềm năng của con người.

Thủ đô Seoul của Hàn Quốc. Quốc gia này là một trong số những ví dụ thành công về việc thoát khỏi “bẫy thu nhập trung bình.” Ảnh: Gije Cho - Pexels

Bẫy thu nhập trung bình

Cái bẫy này người ta gọi là Bẫy thu nhập trung bình, thuật ngữ do hai nhà kinh tế Indermit Gill và Homi Kharas đặt ra năm 2007, khi họ đang nghiên cứu chiến lược phát triển cho các nước Đông Á.

Ý tưởng cốt lõi thì đơn giản thôi: Một quốc gia nghèo có thể tăng trưởng khá nhanh nhờ mấy lợi thế có sẵn, tài nguyên, nhân công rẻ, hay viện trợ nước ngoài. Nhưng đến một ngưỡng nào đó, mọi thứ chững lại. Lương tăng lên rồi, thế là mất luôn lợi thế “rẻ.”