Tại sao Trung Quốc quyết chiếm Đài Loan?

Chiến đấu cơ F16 của Đài Loan (bên dưới) áp sát oanh tạc cơ H6 của Trung Quốc xâm nhập vùng nhận dạng phòng không của Đài Loan hôm 10/2/2020. Ảnh: AP - do bộ Quốc Phòng Đài Loan cung cấp
Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print
Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print

Chuyên gia Pháp về Trung Quốc cho rằng kế hoạch chinh phục Đài Loan của Bắc Kinh, kể cả bằng vũ lực, bắt nguồn từ nhiều lý do, từ chính trị, lịch sử, cho đến kinh tế, thương mại và đặc biệt nhất là chiến lược và địa chính trị.

Bộ Quốc Phòng Đài Loan hôm 18/8/2022 lại cảnh báo về hoạt động của 6 chiến hạm và hơn 50 phi cơ quân sự Trung Quốc xung quanh hòn đảo, trong đó có 25 chiếc đã vượt qua đường trung tuyến trên eo biển Đài Loan hoặc bay vào vùng nhận dạng phòng không của hòn đảo. Sau đợt tập trận được phô trương là rầm rộ chưa từng thấy xung quanh Đài Loan trong 4 ngày 4-7/8,  Quân Đội Trung Quốc vẫn tiếp tục duy trì các hoạt động hù dọa và càng lúc càng lúc lộ rõ “quyết tâm” chiếm đóng hòn đảo, kể cả bằng võ lực.

Trong một bài phân tích đăng ngày 17/8 vừa qua, nhật báo Pháp Le Monde cho rằng ý đồ đánh chiếm Đài Loan của Trung Quốc không chỉ là sáp nhập hòn đảo này vào lãnh thổ của mình, mà còn là phá vỡ các liên minh của Mỹ trong khu vực.

Theo các chuyên gia Pháp về Trung Quốc được Le Monde trích dẫn, kế hoạch chinh phục Đài Loan của Bắc Kinh, kể cả bằng vũ lực, bắt nguồn từ nhiều lý do, từ chính trị, lịch sử, cho đến kinh tế, thương mại và đặc biệt nhất là chiến lược và địa chính trị.

Lập luận “thống nhất” Đài Loan không có cơ sở

Điều mà nhiều chuyên gia Pháp ghi nhận đầu tiên là tính chất thiếu vững chắc của lâp luận mà Bắc Kinh luôn đưa ra trên vấn đề Đài Loan, theo đó hòn đảo là một bộ phận không thể tách rời khỏi Trung Quốc, do đó cần phải được sáp nhập và “thống nhất” với Hoa Lục.

Theo Stéphane Corcuff, một nhà Trung Hoa học thuộc Trung Tâm Nghiên Cứu Pháp về Trung Quốc Đương Đại, trụ sở tại Đài Bắc, chế độ Cộng Sản Trung Quốc lên cầm quyền tại Hoa Lục từ năm 1949 không bao giờ thừa nhận việc thực thể mang tên gọi Trung Hoa Dân Quốc tiếp tục tồn tại một cách độc lập ở Đài Loan sau năm 1949. Chuyên gia này nêu bật sự kiện là vào năm 1934, Mao Trạch Đông từng lên tiếng đòi Đài Loan “độc lập,” nhưng đến năm 1949, ông lại đột nhiên muốn Đài Loan được “giải phóng.”

Theo Le Monde, đảng Cộng Sản Trung Quốc (ĐCSTQ) hiện coi “vấn đề Đài Loan” là chuyện nội bộ và không cho phép bất kỳ một sự can thiệp nào từ bên ngoài. Thế nhưng đó lại là một vùng lãnh thổ mà họ chưa bao giờ kiểm soát.

Bà Marianne Péron-Doise, giám đốc Đài Quan Sát Địa Chính Trị vùng Ấn Độ-Thái Bình Dương tại Viện Quan Hệ Chiến Lược và Quốc Tế (IRIS) nhấn mạnh: “Trung Quốc tuyên bố chủ quyền đối với Đài Loan bằng cách dùng từ ‘thống nhất’ trong khi thuật ngữ này hoàn toàn không phù hợp, vì Đài Loan chưa bao giờ là lãnh thổ của Trung Quốc.” Trên cơ sở đó, theo bà Péron-Doise, nếu Trung Quốc đánh chiếm Đài Loan, thì đó không phải là một sự “thống nhất” mà là một hành vi “sáp nhập bằng võ lực.”

Đài Loan chỉ bị nhà Thanh chinh phục một phần vào cuối thế kỷ 17, nhưng nhà Thanh lại là một triều đại của người Mãn Châu, chứ không phải là một chế độ của người Hán. Đến năm 1895, Đài Loan bị Nhật Bản sáp nhập và sau đó được tái hòa nhập vào nước Trung Hoa Dân Quốc vào năm 1945, sau khi Nhật Bản đầu hàng.

Đối với Stéphane Corcuff, tuyên bố chủ quyền của Bắc Kinh hiện nay trên Đối lập “không nhằm mục đích ‘thống nhất’ Đài Loan và Trung Quốc mà là để sáp nhập một quốc gia có chủ quyền” dựa trên các yếu tố lịch sử, dân tộc hoặc ngôn ngữ.

Phá vỡ các liên minh của Mỹ đang chi phối “chuỗi đảo đầu tiên” 

Theo Le Monde, động cơ thúc đẩy Bắc Kinh quyết chiếm Đài Loan không chỉ là chính trị như kể trên mà còn là địa chính trị và chiến lược, đặc biệt trong bối cảnh Trung Quốc đang khẳng định mình như là một siêu cường và cạnh tranh với Hoa Kỳ.

Theo Le Monde, đặc điểm địa lý của khu vực Biển Hoa Đông và Biển Đông cũng như liên minh của các nước láng giềng đang ngăn cản tham vọng bá quyền của Bắc Kinh, với 14.000 km đường bờ biển của Trung Quốc phải đối mặt với cái được gọi là “chuỗi đảo đầu tiên.”

Chuyên gia Marc Julienne, phụ trách các nghiên cứu về Trung Quốc tại Trung Tâm Châu Á thuộc Viện Quan Hệ Quốc tế Pháp (IFRI) phân tích: “Bắc Kinh trong một chừng mực nào đó đang bị giới hạn trong các vùng biển của mình, không có quyền tiếp cận tự do với Thái Bình Dương, vì họ phải đối mặt với chuỗi đảo thuộc các quốc gia có quan hệ tương đối thù địch với Trung Quốc.”

Chuỗi đảo đầu tiên này bao gồm bốn đồng minh của Hoa Kỳ: Hàn Quốc, Nhật Bản, Philippines và Đài Loan. Ba nước đầu tiên đều có hiệp ước phòng thủ chung với Mỹ. Hàn Quốc có hai căn cứ hải-không quân của Mỹ và Nhật Bản, sáu căn cứ. Kể từ năm 2014, một thỏa thuận an ninh cũng đã cung cấp cho Không Quân Mỹ 5 điểm hỗ trợ tại Philippines.

Chuỗi đảo thứ hai bao gồm Quần Đảo Bắc Mariana (nơi có căn cứ hải quân lớn của Mỹ là Guam), Palau (một vùng lãnh thổ trước đây do Hoa Kỳ quản lý) và quần đảo Ogasawara của Nhật Bản.

Chiếm được Đài Loan sẽ cho phép Trung Quốc làm suy yếu đáng kể sự hiện diện của Mỹ trong khu vực và khẳng định sự thống trị của Trung Quốc.

Đối với chuyên gia Marc Julienne, do vị trí trung tâm của mình, “Đài Loan là một loại chốt chặn ngõ ra Thái Bình Dương của Trung Quốc.”

Chuyên gia Pháp phân tích: “Trung Quốc tìm cách phá vỡ mạng lưới liên minh của Mỹ trong khu vực. Mục đích là để quân đội Trung Quốc có thể ngăn cản Hoa Kỳ can thiệp vào khu vực thông qua chiến thuật từ chối tiếp cận, điều này sẽ khiến người Mỹ khó tiếp cận Trung Quốc và từ Đài Loan hơn nhiều. Và khi Hoa Kỳ không còn khả năng bảo vệ Nhật Bản, liên minh sẽ không đứng vững.”

Một nguồn thạo tin từ Bộ Quân Lực Pháp cho rằng việc Hoa Kỳ biến mất với tư cách là người bảo đảm an ninh trong khu vực “sẽ là một bước ngoặt chiến lược.” Nguồn tin xin giấu tên cho biết: “Có một nguy cơ thực sự mở đường cho việc phổ biến vũ khí hạt nhân ở các nước như Hàn Quốc, và có thể là Nhật Bản. Nếu hai quốc gia này không còn có thể dựa vào chiếc ô hạt nhân của Mỹ, họ có thể tìm cách phát triển biện pháp răn đe của riêng mình để tự đảm bảo an ninh.”

Tuy nhiên, bà Marianne Péron-Doise khá thận trọng: “Trung Quốc sẽ không thể phá vỡ các hiệp ước an ninh” giữa Nhật Bản, Hàn Quốc và Hoa Kỳ, vì “không thể tưởng tượng rằng Trung Quốc có thể thay vào chỗ những đảm bảo an ninh” của Mỹ.

Mở đường ra cho tàu ngầm hạt nhân Trung Quốc 

Một trong những mục tiêu chiến lược khác của Bắc Kinh liên quan đến khả năng răn đe hạt nhân và đặc biệt là khắc phục tình trạng khả năng cơ động của các tàu ngầm tên lửa hạt nhân của Trung Quốc bị một số yếu tố địa lý hạn chế.

Màng lưới theo dõi hiện tại đặt trên hai chuỗi đảo cho phép các đồng minh của Mỹ dễ dàng phát hiện các tàu ngầm Trung Quốc muốn đi ra Thái Bình Dương.

Theo ông Marc Julienne: “Người Nhật, người Mỹ và người Đài Loan có khả năng tác chiến chống tàu ngầm rất tốt và có thể theo dõi loại tàu ngầm này.

Nhưng quan trọng hơn cả là vùng Biển Hoa Đông và Biển Đông có lưu lượng tàu thương mại dày đặc và thuộc diện biển nông. Ba phần tư Biển Hoa Đông sâu chưa đến hai trăm mét, không đủ để tàu ngầm Trung Quốc lặn sâu và di chuyển một cách kín đáo, không bị ‘nghe thấy.'”

Nguồn tin từ Bộ Quân Lực Pháp xác nhận: “Tàu ngầm mang tên lửa đạn đạo SSBN bị khoanh lại trong vùng biển xung quanh đảo Hải Nam trên Biển Đông. Với tầm bắn hạn chế, các chiếc tàu này không thể vươn tới lục địa Hoa Kỳ. Trung Quốc do đó phải dựa vào tên lửa đạn đạo trên bộ của họ, về bản chất dễ bị tấn công hơn so với tàu ngầm, vốn có thể dễ dàng ẩn náu hơn.”

Ngược lại, Đài Loan có lợi thế là có khả năng tiếp cận trực tiếp với đại dương sâu ở vùng bờ biển phía đông của mình.

Theo Marc Julienne, việc chiếm được Đài Loan “sẽ là cơ hội để Trung Quốc xây dựng một căn cứ tàu ngầm SSBN mới và tiến gần hơn đến các bờ biển của Hoa Kỳ. Đối với Mỹ đó sẽ là một đe dọa trực tiếp.”

Áp đặt các tuyên bố chủ quyền trên các vùng biển khác 

Việc chinh phục Đài Loan sẽ phục vụ các mục đích khác của Bắc Kinh, chẳng hạn như áp đặt các yêu sách về lãnh thổ và hàng hải của Trung Quốc.

Bà Marianne Péron-Doise chỉ rõ: “Chúng ta phải lồng vấn đề eo biển Đài Loan trong một tổng thể lớn hơn: Đó là sự bành trướng toàn cầu của sức mạnh hàng hải Trung Quốc. Thông qua việc kiểm soát Đài Loan, Trung Quốc có thể mở rộng vùng đặc quyền kinh tế của mình và áp đặt các hạn chế đối với quyền tự do hàng hải.”

Theo Le Monde, nếu mối quan tâm trước mắt của Trung Quốc nhắm vào tàu quân sự nước ngoài, thì việc mở rộng vùng chủ quyền cũng sẽ cho phép Bắc Kinh thực hiện quyền kiểm soát đối với hoạt động vận chuyển dân sự – một đòn bẩy mạnh mẽ để gây áp lực lên các nước láng giềng hoặc thúc đẩy các lợi ích của Trung Quốc.

Eo biển Đài Loan là nằm trong các vùng biển mà Trung Quốc muốn kiểm soát toàn bộ, trong bối cảnh một phần eo biển là vùng biển quốc tế mở cửa tự do cho hàng hải. Viễn cảnh Bắc Kinh có thể kiểm soát tuyến đường thương mại chính giữa Biển Đông và Biển Hoa Đông này khiến Hàn Quốc và Nhật Bản, những nước có nền kinh tế phụ thuộc nhiều vào nhập khẩu, lo ngại.

Chiếm được Đài Loan cũng sẽ hỗ trợ các tuyên bố chủ quyền của Trung Quốc ở Biển Đông, nơi Bắc Kinh đang cố gắng củng cố vị thế của mình, gây hại cho luật biển quốc tế và các nước láng giềng. Các tranh chấp chủ yếu liên quan đến hai quần đảo: Hoàng Sa, nằm trong vùng biển quốc tế phía nam Trung Quốc, và quần đảo Trường Sa, nằm giữa Việt Nam, Malaysia và Philippines, mà Bắc Kinh kiên quyết tuyên bố chủ quyền, bất chấp thực tế là vùng này rất xa Trung Quốc.

Việc chiếm Đài Loan thậm chí có thể làm sống lại tranh chấp đối với quần đảo Senkaku, một quần đảo không có người ở của Nhật Bản nằm không xa bờ biển phía đông của Đài Loan. Theo chuyên gia Marc Julienne: “Không loại trừ việc Trung Quốc ép Nhật Bản vào khuôn phép trong khu vực, điều này dường như đang khiến chính quyền Nhật Bản hết sức lo ngại.”

Thanh Hà

Nguồn: RFI

 

Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print

BÀI MỚI

Biểu tình chống Dự luật Đặc khu tại Sài Gòn hôm 10/6/2018. Ảnh: VNTB

Biểu tình: Một quyền chính trị quan trọng bị cấm kỵ

Xuyên suốt lịch sử lập hiến của Việt Nam, quyền hội họp và biểu tình luôn được ghi nhận trong các bản Hiến pháp năm 1959 tại Điều 25, Hiến pháp 1980 tại Điều 67, và Hiến pháp 1992 tại Điều 69. Tuy nhiên,  thực tế lịch sử lại không như vậy.

Cho đến nay, Điều 25 của Hiến pháp 2013 vẫn khẳng định công dân có quyền tự do ngôn luận, báo chí, hội họp và biểu tình. Thế nhưng, quyền biểu tình và hội họp vẫn bị treo vô thời hạn!

Ảnh minh họa: Internet

Phát triển và thu hút nhân tài từ nhỏ – trong nước nói, nước ngoài làm

Trong khi Việt Nam vẫn đang hô hào “trọng dụng nhân tài” ở mọi cấp độ, các quốc gia khác đã âm thầm thu hút nguồn lực xuất sắc của chúng ta từ lúc các em còn ngồi trên ghế lớp 8, lớp 9.

Không phải ngẫu nhiên mà Singapore triển khai hai chương trình học bổng lớn – ASEAN Scholarship và A*STAR Scholarship – nhắm trực tiếp vào học sinh Việt Nam từ độ tuổi 14–16.

Ông Tô Lâm phát biểu tại Diễn đàn Đối thoại Shangri-La, Singapore hôm thứ Sáu 29/5/2026. Ảnh: Reuters

Tô Lâm: Ngoại giao một đằng, nội trị một nẻo?

Đó là nghịch lý lớn nhất của đời sống chính trị Việt Nam hiện nay. Đối ngoại thì nói ngôn ngữ của đối thoại, nhưng đối nội lại vận hành bằng ngôn ngữ của kiểm soát. Đối ngoại thì kêu gọi tôn trọng khác biệt, nhưng đối nội lại rất ít chỗ cho những tiếng nói khác biệt. Đối ngoại thì nói về hòa bình, nhưng đối nội lại duy trì một không khí khiến nhiều người e ngại khi bày tỏ quan điểm của mình về những vấn đề hệ trọng của đất nước.

Ảnh minh họa: Mạc Đĩnh Chi đi sứ sang Tàu

Mạc Đĩnh Chi – Nhà ngoại giao hay thi sĩ

Khi sứ đoàn Đại Việt chuẩn bị hồi hương, triều đình nhà Nguyên báo tin một công chúa được vua hết mực yêu thương vừa qua đời. Mạc Đĩnh Chi lại được triệu vào để đọc điếu văn cho công chúa. Theo lời truyền đạt, Mạc Đĩnh Chi sẽ được giao cho một bài điếu văn đã được viết sẵn. Tuy nhiên, khi mở trang giấy, trước mắt ông chỉ có duy nhất một chữ: “Nhất”!

Chỉ sau một thoáng lặng im, Trạng nguyên Mạc Đĩnh Chi đã xuất thần đọc một bài điếu…