Thảm sát Gạc Ma năm 1988: Bước ngoặt thay đổi cục diện an ninh trên Biển Đông

Trung Quốc xây dựng đảo nhân tạo và căn cứ quân sự trên đảo Gạc Ma. Ảnh minh họa: AMIT/ CSIS
Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print
Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print

Ngày 14 tháng 3, 2024 đánh dấu 36 năm Trung Quốc đánh chiếm đảo Gạc Ma của Việt Nam ở quần đảo Trường Sa. Trong cuộc tấn công này, Trung Quốc đã thảm sát 64 công binh Việt Nam trên đảo. Sự kiện này đánh dấu một cột mốc đáng nhớ về lịch sử tranh chấp trên Biển Đông: Lần đầu tiên Trung Quốc tiến xuống và hiện diện tại quần đảo Trường Sa.

Cục diện Biển Đông đã thay đổi ra sao từ sau vụ thảm sát Gạc Ma năm 1988 đối với các công binh Việt Nam? Sự kiện thảm sát Gạc Ma ngày 14/3/2024 là sự kiện lớn. Sự kiện này đánh dấu một bước ngoặt lớn, thay đổi cục diện Biển Đông một cách âm thầm.

Trao đổi với RFA, ông Greg Poling, Giám đốc Chương trình Đông Nam Á của CSIS, cho rằng hiện nay, thế giới tập trung vào nỗi lo ngại Trung Quốc tấn công Đài Loan. Thế giới cũng tập trung vào vào cuộc chiến ở Ukraine và những gì đang diễn ra ở Trung Đông. Trong khi đó, trong những thập kỷ qua, Trung Quốc đã âm thầm thay đổi cán cân quyền lực ở Châu Á mà không bị gặp phải bất kỳ trở ngại hay phản ứng có hiệu quả nào từ phía Mỹ.

Ông Greg Poling nói cho đến khoảng năm 2017 và 2018, tàu Trung Quốc muốn hoạt động ngoài khơi Malaysia hoặc miền Nam Việt Nam phải đi cách bờ biển Trung Quốc từ 800 đến 1.000 hải lý. Nhờ vào nỗ lực xây dựng đảo nhân tạo của Trung Quốc và sau đó quân sự hóa các đảo đó ở quần đảo Trường Sa, các tàu Trung Quốc hiện đang tiến gần hơn đến nhiều vùng biển đang tranh chấp ngoài khơi Indonesia, Malaysia và Việt Nam.

Theo ông Greg Poling, bằng việc xây dựng các đảo này ở quần đảo Trường Sa, Trung Quốc đã đưa tuyến triển khai quân sự của mình tiến lên phía trước hơn một ngàn cây số. Lực  lượng quân sự của Trung Quốc đã tiến gần Philippines hơn các căn cứ của Mỹ. Họ cũng đã tiến đến gần bãi Tư Chính của Việt Nam hơn đất liền Việt Nam. Tức là căn cứ quân sự gần nhất của Trung Quốc nằm gần mỏ dầu khí ở bãi Tư Chính của Việt Nam hơn cả khoảng cách từ đất liền Việt Nam đến đó, vị giám đốc Chương trình Đông Nam Á ở CSIS chỉ ra tình huống an ninh trên biển Đông ngày nay.

Tất cả những điều này là hoàn toàn xa lạ trước năm 1988, khi Trung Quốc còn chưa hiện diện ở Trường Sa. Trao đổi với RFA, nhà nghiên cứu Hoàng Việt ở TP.HCM cho rằng Việt Nam cần nhìn sự kiện thảm sát Gạc Ma năm 1988 trong bối cảnh rộng hơn về lịch sử nhận thức về biển và tiến ra biển của Trung Quốc.

Theo nhà nghiên cứu Hoàng Việt, Trung Quốc có một tầm nhìn về biển xa và rộng. Từ hội nghị quốc tế về luật biển năm 1958 thì Trung Quốc đã đề nghị lãnh hải có 12 hải lý. Và sau này thì quốc tế cũng lựa chọn đề xuất của Trung Quốc. Ngoài ra, theo ông Hoàng Việt, Trung Quốc có một kế hoạch phát triển về phía biển từ sớm. Chiến lược này được thể hiện rõ nhất trong đệ trình của tướng hải quân nước này là Lưu Hoa Thanh năm 1982. Ông nói tiếp:

“Nếu muốn trở thành một cường quốc biển thì Trung Quốc phải nắm được biển Đông. Vì biển Đông là cửa ngõ cho Trung Quốc tiến ra biển. Để nắm được biển Đông thì họ phải nắm được Hoàng Sa và Trường Sa, những điểm tựa quan trọng của họ. Hoàng Sa thì họ đã chiếm hoàn toàn từ 1974. Còn Trường Sa thì họ lần đầu tiến xuống vào năm 1988 sau khi đánh chiếm Gạc Ma. Trước 1988 thì Trung Quốc không có sự hiện diện ở Trường Sa. Trung Quốc đã thấy một điều là nếu không có sự hiện diện ở đó thì bất lợi đối với họ. Cho nên họ đã ra tay để chiếm Gạc Ma năm 1988. Và sau đó là một loạt các đảo khác. Năm 1995 thì họ tiếp tục chiếm đá Vành Khăn từ tay Philippines. 

Cho đến nay, nhiều chuyên gia đã nói là trước khi Trung Quốc bồi lấp, cải tạo các đảo nhân tạo ở Hoàng Sa và Trường Sa, đặc biệt là trước 2014, thì họ vẫn đánh giá là Trung Quốc bị yếu về mặt quân sự. Do máy bay chiến đấu của Trung Quốc bay ra tới Trường Sa thì sẽ bị hết nhiên liệu nếu chiến đấu trên không quá lâu. Quãng đường bay từ đất liền Trung Quốc tới Trường Sa quá xa.  

Nhưng đến nay, sau khi họ đã quân sự hóa được Trường Sa thì rõ ràng Trung Quốc đã giải quyết được vấn đề đó. Họ có khả năng tạo ra một một sự đe dọa rất lớn với Biển Đông.” 

Ngoài ra, nhà nghiên cứu Hoàng Việt cũng chỉ ra là năm 2013, Trung Quốc đã tuyên bố một vùng nhận diện phòng không trên biển Hoa Đông. Nhiều chuyên gia lo ngại rằng không sớm thì muộn, Trung Quốc cũng sẽ công bố một vùng nhận diện phòng không trên biển Đông, đặc biệt là ở những vùng họ kiểm soát được.

Tất cả những chuyển biến lớn về “thế trận” biển Đông như trên đều được bắt đầu từ sau sự kiện Gạc Ma năm 1988. Nhà nghiên cứu Hoàng Việt nói về sự kiện xảy ra cách đây 36 năm trên quần đảo Trường Sa:

“Nó đánh dấu một bước Trung Quốc bắt đầu sử dụng vũ lực để tiến ra biển, xuống Trường Sa và chiếm biển Đông. Chúng ta thấy rằng sau sự kiện này thì Trung Quốc không có nhiều hoạt động mạnh trên biển Đông, ngoài sự kiện năm 1992, Trung Quốc cho một công ty Mỹ thăm dò trên bãi Tư Chính mà họ gọi là Vạn An Bắc. Việt Nam đã phản đối quyết liệt và Trung Quốc dừng lại. Sau đó đến những năm 2007 và đặc biệt là 2009 thì chúng ta mới lại chứng kiến một bước phát triển mới trong hành động và chiến lược của Trung Quốc đối với biển Đông.”  

Nguồn: RFA

 

Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print

BÀI MỚI

Sách "Chuyện với Thanh" và tác giả Nguyễn Thành Nam

Xã hội sẽ “tử tế” kiểu gì khi “hoàn lưu” những cuộc đấu tố trở lại?

Gieo nỗi sợ, người ta sẽ gặt được sự giả dối. Gieo đấu tố, người ta sẽ gặt sự phản trắc. Gieo thói quen kết tội người khác để bảo vệ mình, người ta sẽ tạo ra một xã hội trong đó không ai thực sự bảo vệ ai. Đến một ngày nào đó, khi chính quyền cần sự dấn thân, lòng can đảm và tinh thần trách nhiệm của công dân, điều họ nhận lại có thể chỉ là những khuôn mặt im lặng, những lời nói theo mẫu và một xã hội đã rút hết sinh khí vào bên trong.

Cuốn sách "Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng" bị thu hồi và tiêu hủy. Ảnh: Nhà xuất bản Hội Nhà Vă

Vụ Nguyễn Thành Nam và màn kịch bệnh hoạn của cả một xã hội

Càng theo dõi diễn biến của vụ việc Nguyễn Thành Nam, người ta càng nhận ra đây không phải là một vụ án “thông thường.” Điều khiến nó trở nên đặc biệt không nằm ở điều luật được áp dụng, mà nằm ở chính con người bị áp dụng điều luật ấy.

Bởi lần đầu tiên trong nhiều thập niên, một người từng công khai giảng dạy môn Tư tưởng Hồ Chí Minh, viết sách với mong muốn làm cho người trẻ hiểu và yêu Hồ Chí Minh hơn, lại bị cáo buộc là người “tuyên truyền chống Nhà nước.”

Ông Tô Lâm phát biểu tại Hội nghị Sơ kết 1 năm vận hành cơ chế mới tổ chức vào ngày 1 tháng 7, 2026. Ảnh chụp từ trang mạng Thể Thao & Văn Hóa

Điểm nghẽn của chế độ Tô Lâm

Điểm nghẽn lớn nhất của Việt Nam hôm nay không còn chỉ là thể chế hay năng lực thực thi. Điểm nghẽn sâu xa hơn là mục tiêu phát triển.

Một quốc gia sẽ đi theo đúng mục tiêu mà nó lựa chọn. Nếu mục tiêu cao nhất là duy trì quyền lực, thì mọi chính sách cuối cùng sẽ phục vụ cho việc bảo vệ quyền lực. Nhưng nếu mục tiêu cao nhất là con người và dân tộc Việt Nam, thì toàn bộ hệ thống chính trị, giáo dục, kinh tế và văn hóa sẽ phải được tổ chức lại để khai mở tiềm năng của con người.

Thủ đô Seoul của Hàn Quốc. Quốc gia này là một trong số những ví dụ thành công về việc thoát khỏi “bẫy thu nhập trung bình.” Ảnh: Gije Cho - Pexels

Bẫy thu nhập trung bình

Cái bẫy này người ta gọi là Bẫy thu nhập trung bình, thuật ngữ do hai nhà kinh tế Indermit Gill và Homi Kharas đặt ra năm 2007, khi họ đang nghiên cứu chiến lược phát triển cho các nước Đông Á.

Ý tưởng cốt lõi thì đơn giản thôi: Một quốc gia nghèo có thể tăng trưởng khá nhanh nhờ mấy lợi thế có sẵn, tài nguyên, nhân công rẻ, hay viện trợ nước ngoài. Nhưng đến một ngưỡng nào đó, mọi thứ chững lại. Lương tăng lên rồi, thế là mất luôn lợi thế “rẻ.”