Xây resort, khu dân cư… ở Cần Giờ phải được thẩm định thận trọng

Cần Giờ đã và đang trở thành lá phổi của Sàigòn. Ảnh: Trung Dũng
Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print
Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print

Trong bài viết “Quan hệ giữa bảo tồn và phát triển khu Cần Giờ” gửi đến hội thảo Kinh tế biển, GS-TS. Bùi Chí Bửu (Hội đồng khoa học TP.HCM) lưu ý: Rừng ngập mặn Cần Giờ có vai trò quan trọng trong hạn chế năng lượng tác động từ sóng biển, ngăn ngừa nước biển dâng. Do vậy, việc xây dựng building, resort, khu dân cư phải được thẩm định một cách thận trọng.

Những hoạt động kinh tế theo ngành, liên ngành liên quan tới biển; bao gồm các nguồn lực từ biển để phục vụ đời sống con người và mang lại lợi ích cho nền kinh tế của TP.HCM được thảo luận trên cách nhìn về Rừng Sác hiện nay và tương lai.

Khu dự trữ sinh quyển Cần Giờ còn gọi là Rừng Sác tập họp một quần thể động, thực vật rừng trên cạn và thủy sinh, thuộc châu thổ sông Đồng Nai, sông Sài Gòn và sông Vàm Cỏ. UNESCO công nhận nơi đây là khu dự trữ sinh quyển thế giới vào ngày 21/1/2000. Gần đây, Việt Nam xem nơi đây là khu du lịch trọng điểm quốc gia.

Như vậy, Cần Giờ có phải là một xung đột giữa bảo tồn và phát triển, với đa dạng sinh học điển hình của vùng ngập mặn trước thách thức mới?

Tổng diện tích Khu dự trữ sinh quyển rừng ngập mặn Cần Giờ là 75.740 ha.Vùng lõi: 4.721 ha.Vùng đệm: 41.139 ha.Vùng chuyển tiếp: 29.880 ha. Cần Giờ được nhập vào TP.HCM vào năm 1978. Sau đó rừng ngập mặn này được sự quan tâm đặc biệt của lãnh đạo thành phố, đặc biệt là cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt. Diện tích rừng tái sinh đã phủ xanh hơn 31.000 ha, trong đó, gần 20.000 ha rừng trồng, 11.000 ha rừng được tái sinh tự nhiên, cộng thêm các loại rừng khác.

Kết quả hồi sinh Rừng Sác sau chiến tranh đầy ấn tượng ấy được Chương trình Con người và Sinh quyển – MAB của UNESCO công nhận là khu dự trữ sinh quyển đầu tiên của Việt Nam, nằm trong mạng lưới các khu dự trữ sinh quyển của thế giới.

Đây là hệ sinh thái trung gian giữa hệ sinh thái thủy vực với hệ sinh thái trên cạn; giữa hệ sinh thái nước ngọt và hệ sinh thái nước mặn, với sự bồi tụ hàng năm của phù sa sông Đồng Nai.

Số loài thực vật rất đa dạng với khoảng 150 loài, theo điều tra gần đây, kết quả điều tra của Phạm Văn Ngọt và cộng sự (2007) ghi nhận rừng ngập mặn Cần Giờ có 220 loài thực vật bậc cao, thuộc 155 chi và 60 họ. Đáng kể nhất là họ Cúc (Asteraceae) có 8 loài, họ Thầu dầu (Euphorbiaceae) 9 loài, họ Đước (Rhizophoraceae) 13 loài, họ Lác cói (Cyperaceae) 20 loài, họ Hòa thảo (Poaceae) 20 loài, họ Đậu (Fabaceae) 29 loài.

Về sinh thái động vật, có nhiều nguồn tài liệu khác nhau, nhưng tập trung có thể kể đến số loài động vật sống dưới nước, không xương sống, có khoảng 700 loài; lớp Cá có 130 loài; lớp Lưỡng cư có 9 loài; lớp Bò sát có 31 loài; lớp Chim có 130 loài; lớp Động vật có vú có 4 loài.

Rừng Sác được chuyên gia trong và ngoài nước đánh giá là khu sinh quyển được hồi phục và được bảo vệ tốt nhất của Việt Nam và thế giới. Thực sự Cần Giờ đã và đang trở thành lá phổi của TP.HCM.

Rừng ngập mặn Cần Giờ còn có vai trò quan trọng trong hạn chế năng lượng tác động từ sóng biển (# 50%), ngăn ngừa nước biển dâng. Do vậy, việc xây dựng building, resort, khu dân cư phải được thẩm định một cách thận trọng.

Kinh nghiệm đã chỉ ra rằng: Phục hồi và bảo vệ rừng ngập mặn Cần Giờ thành công là nhờ đóng góp quan trọng của cộng đồng dân cư địa phương. Họ đã chung tay trồng rừng trong suốt giai đoạn sau 1975 đến 1980. Họ nhận khoán bảo vệ rừng, mà trước đây có thể họ đã từng chặt phá rừng làm than củi đước.

Tuy nhiên, chúng ta chưa có giải pháp tốt để cộng đồng cư dân này nâng cao sinh kế. Bởi vì thu nhập kém ổn định; chắc chắn họ sẽ không gắn bó với rừng ngập mặn theo hướng tích cực. Du lịch là giải pháp kéo cư dân này vào một liên kết mang tính chất chiến lược. Nội dung này phải được phát triển có hoạch định từng chặng đường rõ ràng (có agenda và có mục tiêu cho từng chặng), đặc biệt không thể thiếu bóng dáng của cộng đồng dân cư địa phương.

Đã đến lúc, rừng ngập mặn Cần Giờ được đầu tư các đề tài nghiên cứu dài hạn, kinh phí lớn về bảo tồn đa dạng sinh học, kết hợp với giải pháp nâng cao an sinh xã hội (livelihood) của cộng đồng dân cư địa phương.

Khai thác tài nguyên biển phải gắn kết hài hòa giữa bảo tồn và phát triển là một chiến lược lâu dài của đất nước. Xây dựng quy hoạch cảng biển, khu du lịch sinh thái rất cần nguồn lực đầu tư lớn, bên cạnh việc xem xét sinh thái học một cách thận trọng.

Nhìn lại trang thiết bị nghiên cứu khoa học biển và hệ thống các cơ sở đào tạo nguồn nhân lực cho kinh tế biển chưa được đầu tư xứng đáng xét trên quy mô cả nước, không riêng gì TP.HCM. Các cơ sở quan trắc, dự báo sớm (early warning) về thiên tai, tìm kiếm cứu hộ, cứu nạn,… ở ven biển còn nhỏ bé, trang bị thô sơ. Quản lý không gian biển bằng công nghệ biển tiên tiến trong khai thác tài nguyên biển, phần nhiều còn nằm trên giấy, hoặc được triển khai với cơ chế xin cho, hết sức tiêu cực và chậm chạp.

Đa dạng sinh học và nguồn lợi thủy sản giảm sút là vấn đề đáng báo động. Các hệ sinh thái quan trọng bị suy thoái, và thu hẹp dần. Diện tích rừng ngập mặn mất dần theo thời gian. Kéo theo là mất dần các rạn san hô, số loài rong tảo biển ở các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long và Phú Quốc cũng giảm hoặc bị khai thác cạn kiệt.

Chúng ta chưa có thông tin chính thức về chất thải thành phố ảnh hưởng như thế nào đến hạ lưu sông Đồng Nai và vùng Cần Giờ. Đến lúc chúng ta phải có hoạt động điều tra và đề xuất những giải pháp khả thi:

Phương pháp tiếp cận sinh thái và an sinh xã hội cho cư dân sống trong vùng đích; Phát triển kinh tế biển bền vững (môi trường, xã hội và kinh tế); Xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao về khoa học kinh tế biển; Năng lực dự báo sớm (trên cơ sở hiện đại hóa trang thiết khoa học công nghệ); Bảo đảm tính kết nối giữa các địa phương ven biển với nhau; Quản lý biển theo cách tiếp cận tổng hợp (Integrated Approaches)…

Cần Giờ cần được đầu tư có chiều sâu, theo một quy hoạch rất khoa học, để đảm bảo kết hợp hài hòa giữa hai mục tiêu bảo tồn và phát triển du lịch sinh thái.

GS-TS. Bùi Chí Bửu

(Hội Đồng Khoa Học TP.HCM)

Nguồn: Bauxite Việt Nam

XEM THÊM:

 

Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print

BÀI MỚI

Sách "Chuyện với Thanh" và tác giả Nguyễn Thành Nam

Xã hội sẽ “tử tế” kiểu gì khi “hoàn lưu” những cuộc đấu tố trở lại?

Gieo nỗi sợ, người ta sẽ gặt được sự giả dối. Gieo đấu tố, người ta sẽ gặt sự phản trắc. Gieo thói quen kết tội người khác để bảo vệ mình, người ta sẽ tạo ra một xã hội trong đó không ai thực sự bảo vệ ai. Đến một ngày nào đó, khi chính quyền cần sự dấn thân, lòng can đảm và tinh thần trách nhiệm của công dân, điều họ nhận lại có thể chỉ là những khuôn mặt im lặng, những lời nói theo mẫu và một xã hội đã rút hết sinh khí vào bên trong.

Cuốn sách "Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng" bị thu hồi và tiêu hủy. Ảnh: Nhà xuất bản Hội Nhà Vă

Vụ Nguyễn Thành Nam và màn kịch bệnh hoạn của cả một xã hội

Càng theo dõi diễn biến của vụ việc Nguyễn Thành Nam, người ta càng nhận ra đây không phải là một vụ án “thông thường.” Điều khiến nó trở nên đặc biệt không nằm ở điều luật được áp dụng, mà nằm ở chính con người bị áp dụng điều luật ấy.

Bởi lần đầu tiên trong nhiều thập niên, một người từng công khai giảng dạy môn Tư tưởng Hồ Chí Minh, viết sách với mong muốn làm cho người trẻ hiểu và yêu Hồ Chí Minh hơn, lại bị cáo buộc là người “tuyên truyền chống Nhà nước.”

Ông Tô Lâm phát biểu tại Hội nghị Sơ kết 1 năm vận hành cơ chế mới tổ chức vào ngày 1 tháng 7, 2026. Ảnh chụp từ trang mạng Thể Thao & Văn Hóa

Điểm nghẽn của chế độ Tô Lâm

Điểm nghẽn lớn nhất của Việt Nam hôm nay không còn chỉ là thể chế hay năng lực thực thi. Điểm nghẽn sâu xa hơn là mục tiêu phát triển.

Một quốc gia sẽ đi theo đúng mục tiêu mà nó lựa chọn. Nếu mục tiêu cao nhất là duy trì quyền lực, thì mọi chính sách cuối cùng sẽ phục vụ cho việc bảo vệ quyền lực. Nhưng nếu mục tiêu cao nhất là con người và dân tộc Việt Nam, thì toàn bộ hệ thống chính trị, giáo dục, kinh tế và văn hóa sẽ phải được tổ chức lại để khai mở tiềm năng của con người.

Thủ đô Seoul của Hàn Quốc. Quốc gia này là một trong số những ví dụ thành công về việc thoát khỏi “bẫy thu nhập trung bình.” Ảnh: Gije Cho - Pexels

Bẫy thu nhập trung bình

Cái bẫy này người ta gọi là Bẫy thu nhập trung bình, thuật ngữ do hai nhà kinh tế Indermit Gill và Homi Kharas đặt ra năm 2007, khi họ đang nghiên cứu chiến lược phát triển cho các nước Đông Á.

Ý tưởng cốt lõi thì đơn giản thôi: Một quốc gia nghèo có thể tăng trưởng khá nhanh nhờ mấy lợi thế có sẵn, tài nguyên, nhân công rẻ, hay viện trợ nước ngoài. Nhưng đến một ngưỡng nào đó, mọi thứ chững lại. Lương tăng lên rồi, thế là mất luôn lợi thế “rẻ.”