Ai sẽ chịu trách nhiệm nếu dự án đường sắt Lào Cai – Hà Nội – Hải Phòng đội vốn gấp đôi, gấp ba?

Hôm 19/02, Quốc hội đã thông qua chủ trương đầu tư xây tuyến đường sắt Lào Cai – Hà Nội – Hải Phòng với tổng vốn tương đương gần 8,4 tỷ USD. Ảnh: VNTB
Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print
Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print

Tiếp tục kỳ họp bất thường lần thứ 9, sáng 19/2, Quốc hội đã thông qua chủ trương đầu tư tuyến đường sắt Lào Cai – Hà Nội – Hải Phòng với tổng vốn 203.231 tỷ đồng (tương đương gần 8,4 tỷ USD), đặt mục tiêu hoàn thành vào năm 2030. Đằng sau quyết định chóng vánh, thiếu minh bạch và đầy mùi lợi ích nhóm này là hàng loạt vấn đề khiến dư luận không khỏi hoài nghi và lo lắng về tương lai của nền kinh tế, an ninh quốc gia.

Khi nhắc tới các dự án đường sắt có yếu tố Trung Quốc, không thể không nhắc đến tuyến đường sắt đô thị Cát Linh – Hà Đông. Dự án khởi công năm 2011 với tổng mức đầu tư ban đầu là 552 triệu USD. Tuy nhiên, sau hàng loạt lần đội vốn và chậm tiến độ, con số này đã bị đẩy lên 868 triệu USD – tăng 57% so với kế hoạch. Trong đó, vốn vay từ Trung Quốc tăng từ 419 triệu USD lên 669 triệu USD, biến Việt Nam thành con nợ dài hạn.

Mất một thập kỷ để hoàn thành 13 km đường sắt, chất lượng và hiệu quả khai thác của dự án này tiếp tục là chủ đề gây tranh cãi. Những hệ lụy từ việc phụ thuộc vào nhà thầu Trung Quốc không chỉ dừng ở các vấn đề kỹ thuật mà còn ảnh hưởng tới kinh tế, xã hội và đặc biệt là chủ quyền quốc gia.

Câu hỏi đặt ra: Liệu tuyến đường sắt Lào Cai – Hà Nội – Hải Phòng có đi vào “vết xe đổ” của dự án Cát Linh – Hà Đông hay không? Với số vốn lên tới gần 8,4 tỷ USD, nguy cơ đội vốn, chậm tiến độ là hoàn toàn hiện hữu. Ai sẽ chịu trách nhiệm nếu dự án tiếp tục kéo dài và trở thành gánh nặng nợ công khổng lồ?

Chưa bàn đến hiệu quả kinh tế hay lợi ích phát triển, rõ ràng khoản vay hàng tỷ USD này sẽ làm tăng thêm gánh nặng nợ công. Theo báo cáo của Bộ Tài chính, tính đến cuối năm 2023, nợ công của Việt Nam ước tính khoảng 39 – 40% GDP. Nếu tính cả các khoản vay mới, con số này có thể còn gia tăng đáng kể.

Mỗi người dân từ khi sinh ra đã phải gánh một phần nợ công, và những dự án quy mô lớn, thiếu minh bạch như tuyến đường sắt này lại càng làm trầm trọng thêm tình trạng đó. Lạm phát, tăng thuế, cắt giảm phúc lợi xã hội là những hậu quả dễ thấy khi nợ công tăng cao.

Ai sẽ bảo đảm rằng, sau khi dự án hoàn thành, người dân không phải trả giá bằng sự suy giảm mức sống và cơ hội phát triển trong tương lai? Và ai sẽ chịu trách nhiệm khi dự án lại đội vốn gấp đôi, gấp ba? Hay rồi mọi thứ sẽ lại “chìm xuồng”, còn dân đen tiếp tục oằn mình trả giá bằng thuế má, lạm phát, và đời sống ngày càng bấp bênh?

Một khía cạnh đáng lo ngại khác chính là an ninh quốc gia. Nếu nhà thầu Trung Quốc tiếp tục được trao quyền từ cung cấp vốn, xây dựng, kỹ thuật cho đến vận hành tuyến đường sắt kéo dài qua nhiều tỉnh phía Bắc, thì đây là lỗ hổng nghiêm trọng về chủ quyền và an ninh.

Trong bối cảnh tranh chấp Biển Đông vẫn diễn biến phức tạp, việc để một quốc gia có tham vọng bành trướng như Trung Quốc can thiệp sâu vào hạ tầng chiến lược không chỉ là mối đe dọa tiềm tàng mà còn có thể trở thành nguy cơ thực tế khi có biến động chính trị. Liệu các nhà hoạch định chính sách có cân nhắc thấu đáo những rủi ro an ninh lâu dài khi thông qua dự án này hay không?

Một dự án tầm cỡ quốc gia với số vốn khổng lồ đáng ra phải được thảo luận công khai, lấy ý kiến rộng rãi từ các chuyên gia kinh tế, an ninh và người dân. Thế nhưng, quá trình thông qua chủ trương đầu tư tuyến đường sắt này lại diễn ra nhanh chóng, thiếu minh bạch. Những cảnh báo từ các nhà phân tích độc lập về nguy cơ nợ công, sự phụ thuộc vào Trung Quốc dường như bị phớt lờ.

Việt Nam sẽ đi về đâu nếu cứ tiếp tục lao vào những dự án nghìn tỷ đầy rủi ro và mù mờ? Bao giờ mới chấm dứt cảnh lãnh đạo chỉ biết tư lợi cá nhân, còn dân đen thì gánh mọi hậu quả? Nếu không tỉnh táo, tương lai của đất nước sẽ chỉ là một vòng xoáy nợ nần, phụ thuộc, và mất dần quyền tự chủ. Và bi kịch lớn nhất là khi người dân, thế hệ mai sau, phải trả giá cho những quyết định thiển cận và vô trách nhiệm của ngày hôm nay.

Dân Trần

 

Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print

BÀI MỚI

Biểu tình chống Dự luật Đặc khu tại Sài Gòn hôm 10/6/2018. Ảnh: VNTB

Biểu tình: Một quyền chính trị quan trọng bị cấm kỵ

Xuyên suốt lịch sử lập hiến của Việt Nam, quyền hội họp và biểu tình luôn được ghi nhận trong các bản Hiến pháp năm 1959 tại Điều 25, Hiến pháp 1980 tại Điều 67, và Hiến pháp 1992 tại Điều 69. Tuy nhiên,  thực tế lịch sử lại không như vậy.

Cho đến nay, Điều 25 của Hiến pháp 2013 vẫn khẳng định công dân có quyền tự do ngôn luận, báo chí, hội họp và biểu tình. Thế nhưng, quyền biểu tình và hội họp vẫn bị treo vô thời hạn!

Ảnh minh họa: Internet

Phát triển và thu hút nhân tài từ nhỏ – trong nước nói, nước ngoài làm

Trong khi Việt Nam vẫn đang hô hào “trọng dụng nhân tài” ở mọi cấp độ, các quốc gia khác đã âm thầm thu hút nguồn lực xuất sắc của chúng ta từ lúc các em còn ngồi trên ghế lớp 8, lớp 9.

Không phải ngẫu nhiên mà Singapore triển khai hai chương trình học bổng lớn – ASEAN Scholarship và A*STAR Scholarship – nhắm trực tiếp vào học sinh Việt Nam từ độ tuổi 14–16.

Ông Tô Lâm phát biểu tại Diễn đàn Đối thoại Shangri-La, Singapore hôm thứ Sáu 29/5/2026. Ảnh: Reuters

Tô Lâm: Ngoại giao một đằng, nội trị một nẻo?

Đó là nghịch lý lớn nhất của đời sống chính trị Việt Nam hiện nay. Đối ngoại thì nói ngôn ngữ của đối thoại, nhưng đối nội lại vận hành bằng ngôn ngữ của kiểm soát. Đối ngoại thì kêu gọi tôn trọng khác biệt, nhưng đối nội lại rất ít chỗ cho những tiếng nói khác biệt. Đối ngoại thì nói về hòa bình, nhưng đối nội lại duy trì một không khí khiến nhiều người e ngại khi bày tỏ quan điểm của mình về những vấn đề hệ trọng của đất nước.

Ảnh minh họa: Mạc Đĩnh Chi đi sứ sang Tàu

Mạc Đĩnh Chi – Nhà ngoại giao hay thi sĩ

Khi sứ đoàn Đại Việt chuẩn bị hồi hương, triều đình nhà Nguyên báo tin một công chúa được vua hết mực yêu thương vừa qua đời. Mạc Đĩnh Chi lại được triệu vào để đọc điếu văn cho công chúa. Theo lời truyền đạt, Mạc Đĩnh Chi sẽ được giao cho một bài điếu văn đã được viết sẵn. Tuy nhiên, khi mở trang giấy, trước mắt ông chỉ có duy nhất một chữ: “Nhất”!

Chỉ sau một thoáng lặng im, Trạng nguyên Mạc Đĩnh Chi đã xuất thần đọc một bài điếu…