Cần chế định chính quyền “Tuyên bố vùng dịch”

Ảnh: FB Manh Dang
Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print
Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print

Cơn đại dịch cúm Tàu đã hoành hành thế giới suốt hơn một năm rưỡi qua. Trong xu thế hội nhập và toàn cầu hóa, hầu như Việt Nam không có cơ may nào để tránh thoát khỏi cơn dịch cả. Nhất là về địa lý, Việt Nam có lãnh thổ tọa lạc giáp ranh ngay bên cạnh ông bạn hàng xóm Trung Cộng, nơi khởi nguồn cơn đại dịch.

Dịch đến đâu, nó làm đình đốn mọi hoạt động thường nhật ở nơi đó, từ quan hệ công, công-tư đến quan hệ tư.

Đối với quan hệ công, cơn dịch đã từng làm nhiều cơ quan công quyền phải tạm đình chỉ trách nhiệm cung ứng dịch vụ công cho công chúng. Đình chỉ cả hệ thống tài phán ban phát công lý. Đồng thời, nó làm phát sinh thêm nhiều công việc mang tính chất lâm thời, thậm chí, chưa từng được dự liệu trong bất kỳ quy định luật pháp nào.

Chưa kể rằng, để đối phó với cơn dịch, thì một số quyền tự do cơ bản của công dân mang tính cách hiến định cũng đã phải buộc tạm đình chỉ thực hiện. Thật vậy, việc ban hành các quy định giãn cách xã hội bao gồm biện pháp hạn chế đi lại, giao tiếp giữa công dân, một mặt là giải pháp y tế, mặt khác, về phương diện pháp lý cần được nhìn nhận đã làm hạn chế các quyền tự do của công dân như: Quyền tự do đi lại. Cũng thế, biện pháp truy vết tiếp xúc của cá nhân đối với các ca dương tính đã xâm phạm vào quyền bí mật đời sống riêng tư, điện thoại. Chưa hết, đóng cửa các chợ đầu mối, chợ truyền thống, các nhà hàng, cửa hiệu buôn bán… đều là các sự hạn chế quyền tự do kinh doanh, lao động của công dân.

Đối với quan hệ tư, cơn dịch làm đình đốn việc thực hiện khá nhiều khế ước thương mại lẫn dân sự vì sự hạn chế giao thương, đi lại…

Nên biết, dịch bệnh cùng với thiên tai và chiến tranh đã là ba nguyên cớ mà hầu hết luật pháp của các quốc gia trên thế giới đều quy định là trường hợp bất khả kháng, làm cơ sở để trì hoãn, đình chỉ nghĩa vụ dân sự hoặc khế ước dân sự.

Thế nhưng, sự đình chỉ quan hệ công hay tư vì dịch bệnh không chỉ bằng sự kiện có dịch bệnh phát sinh là đủ. Mà nhất thiết, phải bằng một hành vi tuyên bố chính thức của chính quyền thì mới có thể phát sinh hiệu lực pháp luật, là điều mà cho đến nay chính quyền chưa thực hiện và cũng không có cơ sở pháp lý để thực hiện.

Gần đây, công chúng của một vài tỉnh miền Tây Nam bộ đã rất hồ hởi trước thông tin chủ tịch UBND chỉ đạo tạm dừng thu các khoản tiền điện, nước, viễn thông, lãi suất ngân hàng… vì đã “gãi đúng chỗ ngứa” khi nỗi lo lắng của dân chúng về hàng loạt nghĩa vụ dân sự mà họ khó lòng chu toàn, nhất là những khoản vay nợ vẫn tiếp tục sinh lãi bất chấp dịch giã. Các chỉ đạo này đều hết sức chính đáng, hợp thời, hợp lòng dân. Nhưng rất tiếc, không hợp pháp. Vì lẽ, các chủ tịch UBND tỉnh không có thẩm quyền ban hành mệnh lệnh hành chính can thiệp vào các khế ước dân sự để làm đình chỉ chúng! Chỉ có tòa án mới có thẩm quyền đó và “Tuyên bố vùng dịch” của chính quyền (nếu có).

Thật vậy, với “Tuyên bố vùng dịch” của chính quyền có lợi ích pháp lý về nhiều phương diện với nhiều đối tượng có liên quan.

Đối với chính quyền, “Tuyên bố vùng dịch” có lợi ích giải trừ trách nhiệm hành chính đối với khá nhiều loại công vụ. Như, các hồ sơ hành chính trình duyệt quá hạn sẽ được được tạm “đóng băng” hoặc gia hạn. Kích hoạt thẩm quyền huy động các nguồn lực của quốc gia khả dĩ phòng chống dịch.

Đối với quan hệ giữa chính quyền và công dân, “Tuyên bố vùng dịch” tạo cơ sở pháp lý để tạm đình chỉ một số quyền tự do cơ bản mang tính cách hiến định của công dân, như: Quyền tự do đi lại, bảo vệ bí mật đời sống riêng tư, bí mật điện thoại, tự do kinh doanh, tự do lao động…

Đối với các quan hệ tư, “Tuyên bố vùng dịch” là cơ sở pháp lý để giúp làm giải trừ, giảm trừ hoặc miễn trừ nghĩa vụ dân sự. Phổ biến nhất là các nghĩa vụ thanh toán hoặc trả lãi, như: Thanh toán tiền thuê nhà, thuê mặt bằng, tiền trả góp, cũng như trả lãi các trái khoản (vay mượn).

Đương nhiên, “Tuyên bố vùng dịch” chỉ có hiệu lực trong phạm vi địa phương được “Tuyên bố vùng dịch” mà thôi.

Nếu xem các Chỉ thị 15 và 16 của thủ tướng chính phủ là các biện pháp hành chính được ban hành vì mục đích y tế, phòng chống dịch. Thì “Tuyên bố vùng dịch” là biện pháp pháp lý cần thiết để giảm thiểu các hậu quả mà các Chỉ thị 15 và 16 gây phát sinh.

Liên quan đến việc “Tuyên bố vùng dịch,” về thẩm quyền, tham chiếu vào Luật Phòng, Chống bệnh truyền nhiễm 2007, trong trường hợp bệnh truyền nhiễm thuộc nhóm A khi dịch lây lan nhanh từ tỉnh này sang tỉnh khác, ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe con người như hiện nay, thì thẩm quyền công bố dịch bệnh thuộc về thủ tướng chính phủ (điểm c, khoản 2 điều 38).

Tuy vậy, toàn văn Luật Phòng, Chống bệnh truyền nhiễm 2007 chủ yếu quy địch về nội dung phòng chống bệnh truyền nhiễm như đúng tên gọi của văn bản luật. Hẳn nhiên, không có những nội dung mang lại lợi ích pháp lý của một “Tuyên bố vùng dịch” như giải trừ trách nhiệm hành chính về cung cấp dịch vụ công, tạm đình chỉ các quyền tự do hiến định của công dân, giải trừ, giảm trừ hoặc miễn trừ các nghĩa vụ dân sự… Đây là một khoảng trống rất lớn trong luật pháp thực tại cần phải được nhanh chóng bổ khuyết.

Cơn đại dịch rồi cũng phải qua đi. Các công sở sẽ trở lại cung cấp các dịch vụ công. Các quyền tự do công dân mang tính cách hiến định sẽ lại phục hồi đầy đủ và được luật pháp bảo vệ. Các nghĩa vụ dân sự sẽ được các bên hoặc cơ quan tài phán xem xét lại trên cơ sở “Tuyên bố vùng dịch” để được giải trừ, giảm trừ hoặc miễn trừ trong thời gian dịch bệnh. “Tuyên bố vùng dịch” trở thành phương tiện pháp lý để khoan sức dân, ổn cố xã hội hậu cơn dịch.

Thế nên, quốc hội khóa mới nên khẩn cấp đưa vấn đề bổ khuyết thẩm quyền “Tuyên bố vùng dịch” của chính quyền vào nghị trình lập pháp.

LS Đặng Đình Mạnh

Nguồn: FB Manh Dang

 

Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print

BÀI MỚI

Sách "Chuyện với Thanh" và tác giả Nguyễn Thành Nam

Xã hội sẽ “tử tế” kiểu gì khi “hoàn lưu” những cuộc đấu tố trở lại?

Gieo nỗi sợ, người ta sẽ gặt được sự giả dối. Gieo đấu tố, người ta sẽ gặt sự phản trắc. Gieo thói quen kết tội người khác để bảo vệ mình, người ta sẽ tạo ra một xã hội trong đó không ai thực sự bảo vệ ai. Đến một ngày nào đó, khi chính quyền cần sự dấn thân, lòng can đảm và tinh thần trách nhiệm của công dân, điều họ nhận lại có thể chỉ là những khuôn mặt im lặng, những lời nói theo mẫu và một xã hội đã rút hết sinh khí vào bên trong.

Cuốn sách "Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng" bị thu hồi và tiêu hủy. Ảnh: Nhà xuất bản Hội Nhà Vă

Vụ Nguyễn Thành Nam và màn kịch bệnh hoạn của cả một xã hội

Càng theo dõi diễn biến của vụ việc Nguyễn Thành Nam, người ta càng nhận ra đây không phải là một vụ án “thông thường.” Điều khiến nó trở nên đặc biệt không nằm ở điều luật được áp dụng, mà nằm ở chính con người bị áp dụng điều luật ấy.

Bởi lần đầu tiên trong nhiều thập niên, một người từng công khai giảng dạy môn Tư tưởng Hồ Chí Minh, viết sách với mong muốn làm cho người trẻ hiểu và yêu Hồ Chí Minh hơn, lại bị cáo buộc là người “tuyên truyền chống Nhà nước.”

Ông Tô Lâm phát biểu tại Hội nghị Sơ kết 1 năm vận hành cơ chế mới tổ chức vào ngày 1 tháng 7, 2026. Ảnh chụp từ trang mạng Thể Thao & Văn Hóa

Điểm nghẽn của chế độ Tô Lâm

Điểm nghẽn lớn nhất của Việt Nam hôm nay không còn chỉ là thể chế hay năng lực thực thi. Điểm nghẽn sâu xa hơn là mục tiêu phát triển.

Một quốc gia sẽ đi theo đúng mục tiêu mà nó lựa chọn. Nếu mục tiêu cao nhất là duy trì quyền lực, thì mọi chính sách cuối cùng sẽ phục vụ cho việc bảo vệ quyền lực. Nhưng nếu mục tiêu cao nhất là con người và dân tộc Việt Nam, thì toàn bộ hệ thống chính trị, giáo dục, kinh tế và văn hóa sẽ phải được tổ chức lại để khai mở tiềm năng của con người.

Thủ đô Seoul của Hàn Quốc. Quốc gia này là một trong số những ví dụ thành công về việc thoát khỏi “bẫy thu nhập trung bình.” Ảnh: Gije Cho - Pexels

Bẫy thu nhập trung bình

Cái bẫy này người ta gọi là Bẫy thu nhập trung bình, thuật ngữ do hai nhà kinh tế Indermit Gill và Homi Kharas đặt ra năm 2007, khi họ đang nghiên cứu chiến lược phát triển cho các nước Đông Á.

Ý tưởng cốt lõi thì đơn giản thôi: Một quốc gia nghèo có thể tăng trưởng khá nhanh nhờ mấy lợi thế có sẵn, tài nguyên, nhân công rẻ, hay viện trợ nước ngoài. Nhưng đến một ngưỡng nào đó, mọi thứ chững lại. Lương tăng lên rồi, thế là mất luôn lợi thế “rẻ.”