Hội chứng Bắc Kinh của chính quyền Hà Nội

Hội chứng Bắc Kinh của giới cầm quyền Hà Nội. Ảnh: Việt Tân
Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print
Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print

* Bài viết của ông Hoàng Tứ Duy, Tổng Bí Thư đảng Việt Tân đăng trên Tạp chí The Diplomat

Tổng Bí Thư đảng Cộng Sản Việt Nam Nguyễn Phú Trọng là nhà lãnh đạo nước ngoài đầu tiên thăm Trung Quốc sau khi ông Tập Cận Bình đảm nhận nhiệm kỳ tổng bí thư thứ ba của đảng Cộng Sản Trung Quốc.

Mặc dù hai nước có một mối quan hệ mâu thuẫn kéo dài, nhưng giới lãnh đạo Hà Nội vẫn muốn tìm cách thủ lợi từ Tây Phương lẫn Trung Quốc. Với các công ty Tây Phương thu nhỏ hoạt động tại Trung Quốc nhằm đa dạng hóa chuỗi cung ứng, Việt Nam đã nhận được nhiều dòng vốn đầu tư mới. Giữa lúc mối quan hệ Hoa Kỳ – Trung Quốc trở nên căng thẳng hơn, các nhà máy đặt tại Trung Quốc hiện đang chuyển sang Việt Nam. Điều này đã tạo ra một làn gió thuận lợi cho triển vọng kinh tế của Việt Nam.

Đồng thời, các nhà lãnh đạo cộng sản của Việt Nam dường như xem Bắc Kinh là một bức tường thành để duy trì hệ thống chuyên quyền của họ. Trong một bài xã luận đăng hôm thứ Năm, Global Times (Hoàn Cầu Thời Báo), một cơ quan truyền thông của nhà nước Trung Quốc, đã lưu ý rằng mối quan hệ Việt – Mỹ có một “giới hạn tối đa” cho dù Hoa Thịnh Đốn đang cố gắng kéo Hà Nội vào quỹ đạo của mình. Mặc dù tờ báo lá cải chủ nghĩa dân tộc này thường được biết đến với giọng điệu chói tai, nhưng có lẽ bài xã luận này không xa sự thật khi cho rằng “Hà Nội không có khả năng tiến quá gần với Hoa Thịnh Đốn do sự khác biệt về hệ tư tưởng.”

Chính vì ý thức hệ – hoài niệm về Liên Xô và tình đoàn kết kỳ quặc với Bắc Kinh – mà chính quyền Hà Nội hầu như im lặng trước việc Nga xâm lược Ukraine. Trong tất cả các cuộc bỏ phiếu trong năm nay tại Đại Hội Đồng Liên Hiệp Quốc nhằm khẳng định chủ quyền của Ukraine, chính phủ CSVN đều đã bỏ phiếu trắng. Điều này bất chấp lợi ích rõ ràng của Việt Nam là liên kết với một hệ thống quốc tế, nơi các quốc gia tôn trọng Hiến Chương Liên Hiệp Quốc và các quốc gia lớn hơn không bắt nạt các nước láng giềng nhỏ hơn.

Để bày tỏ sự phục tùng và tôn kính Bắc Kinh, Nguyễn Phú Trọng đã tuyên bố từ chối mọi liên minh quân sự và không cho phép bất kỳ nước nào đặt căn cứ quân sự trên đất Việt Nam. Đúng là, đây là chính sách của CS Việt Nam từ lâu. Nhưng lần này, ông Trọng đã đi xa hơn bất kỳ nhà lãnh đạo cộng sản nào khác của Việt Nam trong việc ưu tiên quan hệ với Trung Quốc. Tuyên bố chung mới nhất, khác với những lần trước đây, cam kết “bảo vệ đảng, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa ở mỗi nước trong tình hình mới.”

Có lẽ vì những tình cảm đó mà ông Tập đã trao tặng cho ông Trọng huân chương hữu nghị. Ông Trọng trở thành người thứ mười nhận được giải thưởng cao nhất này từ Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa.

Phản ứng trên mạng xã hội ở Việt Nam liền trở nên gay gắt. Một người dùng Facebook nhận xét: “Tưởng đâu ông Trọng qua bển đòi lại biển đảo, ai dè qua bển là để nhận huân chương.” Những người khác nhận xét về sự ngoan ngoãn rõ ràng của ông Trọng khi ông dùng hai tay để bắt tay ông Tập – trong văn hóa Việt Nam, đó thường là hành vi của một quan chức cấp dưới khi chào hỏi một người cao cấp hơn.

“Dư luận đường phố Việt Nam” và đặc biệt là giới các nhà hoạt động từ lâu đã tỏ rõ tinh thần chống Trung Cộng. Họ có xu hướng coi Trung Quốc là mối đe dọa nghiêm trọng đối với chủ quyền của Việt Nam và là trở ngại cho sự cởi mở chính trị của đất nước. Trong một số cuộc khảo sát về quan điểm của dân chúng đối với Trung Quốc, được thực hiện bởi các tổ chức ngoại quốc như Trung Tâm Nghiên Cứu Pew và BBC, tỷ lệ người Việt Nam có quan điểm thuận lợi về Trung Quốc là 10% hoặc ít hơn.

Nhưng đảng Cộng Sản Việt Nam dường như có quan điểm khác. Điều thú vị là khi ông Nguyễn Phú Trọng rời Việt Nam đến Trung Quốc vào ngày 30 tháng Mười, gần như toàn thể Bộ Chính Trị đã ra sân bay để chúc ông một chuyến đi thành công. Cả chủ tịch nước và thủ tướng đều tặng ông Trọng một bó hoa lớn để biểu thị sự ủng hộ của họ. Đối với giới lãnh đạo cộng sản của Việt Nam, mối quan hệ chặt chẽ hơn với Trung Quốc của Tập Cận Bình là một điều tốt.

 

Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print

BÀI MỚI

Sách "Chuyện với Thanh" và tác giả Nguyễn Thành Nam

Xã hội sẽ “tử tế” kiểu gì khi “hoàn lưu” những cuộc đấu tố trở lại?

Gieo nỗi sợ, người ta sẽ gặt được sự giả dối. Gieo đấu tố, người ta sẽ gặt sự phản trắc. Gieo thói quen kết tội người khác để bảo vệ mình, người ta sẽ tạo ra một xã hội trong đó không ai thực sự bảo vệ ai. Đến một ngày nào đó, khi chính quyền cần sự dấn thân, lòng can đảm và tinh thần trách nhiệm của công dân, điều họ nhận lại có thể chỉ là những khuôn mặt im lặng, những lời nói theo mẫu và một xã hội đã rút hết sinh khí vào bên trong.

Cuốn sách "Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng" bị thu hồi và tiêu hủy. Ảnh: Nhà xuất bản Hội Nhà Vă

Vụ Nguyễn Thành Nam và màn kịch bệnh hoạn của cả một xã hội

Càng theo dõi diễn biến của vụ việc Nguyễn Thành Nam, người ta càng nhận ra đây không phải là một vụ án “thông thường.” Điều khiến nó trở nên đặc biệt không nằm ở điều luật được áp dụng, mà nằm ở chính con người bị áp dụng điều luật ấy.

Bởi lần đầu tiên trong nhiều thập niên, một người từng công khai giảng dạy môn Tư tưởng Hồ Chí Minh, viết sách với mong muốn làm cho người trẻ hiểu và yêu Hồ Chí Minh hơn, lại bị cáo buộc là người “tuyên truyền chống Nhà nước.”

Ông Tô Lâm phát biểu tại Hội nghị Sơ kết 1 năm vận hành cơ chế mới tổ chức vào ngày 1 tháng 7, 2026. Ảnh chụp từ trang mạng Thể Thao & Văn Hóa

Điểm nghẽn của chế độ Tô Lâm

Điểm nghẽn lớn nhất của Việt Nam hôm nay không còn chỉ là thể chế hay năng lực thực thi. Điểm nghẽn sâu xa hơn là mục tiêu phát triển.

Một quốc gia sẽ đi theo đúng mục tiêu mà nó lựa chọn. Nếu mục tiêu cao nhất là duy trì quyền lực, thì mọi chính sách cuối cùng sẽ phục vụ cho việc bảo vệ quyền lực. Nhưng nếu mục tiêu cao nhất là con người và dân tộc Việt Nam, thì toàn bộ hệ thống chính trị, giáo dục, kinh tế và văn hóa sẽ phải được tổ chức lại để khai mở tiềm năng của con người.

Thủ đô Seoul của Hàn Quốc. Quốc gia này là một trong số những ví dụ thành công về việc thoát khỏi “bẫy thu nhập trung bình.” Ảnh: Gije Cho - Pexels

Bẫy thu nhập trung bình

Cái bẫy này người ta gọi là Bẫy thu nhập trung bình, thuật ngữ do hai nhà kinh tế Indermit Gill và Homi Kharas đặt ra năm 2007, khi họ đang nghiên cứu chiến lược phát triển cho các nước Đông Á.

Ý tưởng cốt lõi thì đơn giản thôi: Một quốc gia nghèo có thể tăng trưởng khá nhanh nhờ mấy lợi thế có sẵn, tài nguyên, nhân công rẻ, hay viện trợ nước ngoài. Nhưng đến một ngưỡng nào đó, mọi thứ chững lại. Lương tăng lên rồi, thế là mất luôn lợi thế “rẻ.”