Ông Tướng đứng chàng hảng

Thượng Tướng Võ Tiến Trung, cựu Giám Đốc Học Viện Quốc Phòng, hình chụp tháng 1/2016. Ảnh: Báo mạng Thanh Niên
Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print
Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print

Thượng Tướng Võ Tiến Trung, được biết là nguyên giám đốc Học Viện Quốc Phòng, đang “gây bão” trên mạng khi trả lời cuộc phỏng vấn của Báo Dân Việt về tình hình Biển Đông vào ngày 8 tháng Bảy vừa qua.

Đề cập đến việc Trung Quốc tổ chức tập trận rầm rộ ở khu vực quần đảo Hoàng Sa cưỡng chiếm của Việt Nam, từ ngày 1 đến ngày 5 tháng Bảy và sự kiện Mỹ điều động hai hàng không mẫu hạm đến Biển Đông, ông tướng này phát biểu rằng: “Hành động của Trung Quốc và Mỹ đã gây bất ổn và căng thẳng trên khu vực Biển Đông.” Qua phát biểu này, tướng Võ Tiến Trung đã cho người ta thấy gì?

Thứ nhất, ông ta coi hành động xâm lăng các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam trước đây của Trung Cộng, cũng như việc Trung Cộng bồi đắp các bãi đá trên Biển Đông thành căn cứ quân sự là những hành động đúng. Nhưng người dân Việt Nam cũng như công luận thế giới lại nghĩ khác. Từ lâu, người ta đã xác định qua những hành động cướp đất ngang ngược này, Bắc Kinh chính là yếu tố gây bất ổn ở Biển Đông chứ không ai khác.

Thứ hai, ộng ta coi những cuộc tập trận trên Biển Đông của Trung Cộng trước đây cũng như bây giờ cũng là những sự kiện bình thường, không hề ảnh hưởng gì đến an ninh và quyền lợi của Việt Nam. Đây là một quan điểm hết sức nguy hiểm của một tướng lãnh cao cấp trong quân đội, nhất là khi người ấy đã từng là ủy viên Quân Ủy Trung Ương và là giám đốc một học viện mà nhiệm vụ là đào tạo sĩ quan chỉ huy kiến thức về chiến lược quân sự như Học Viện Quốc Phòng.

Thứ ba, coi việc Mỹ đưa hai hàng không mẫu hạm đến Biển Đông tập trận là gây bất ổn, căng thẳng không cần thiết. Rõ ràng ông tướng Trung này chẳng những là người vô học, thiếu kiến thức tổng quát, không hiểu biết tình hình mà còn đánh đồng hai sự kiện có những mục đích hoàn toàn khác nhau.

Từ sau ngày đảng Cộng Sản Trung Hoa nắm quyền ở Hoa Lục, nhóm lãnh đạo Bắc Kinh đã coi Biển Đông là sinh lộ quan trọng để tiến ra thế giới.  Vì vậy Trung Cộng liên tục khuấy đảo Biển Đông, ngang ngược đòi hỏi chủ quyền phi pháp trên nhiều đảo của nước khác không phải là điều mới xảy ra vài năm mà đã có từ thập niên 50 trở đi. Nên phát ngôn như tướng Võ Tiến Trung khiến người ta nghĩ là ông ta chỉ có thể bị Trung Cộng mua chuộc để có dịp nói thay những điều mà Bắc Kinh muốn nói.

Là một người Việt Nam bình thường, không cần phải là tướng tá hay cán bộ cao cấp gì, ai cũng thấy rõ:

– Trung Cộng là kẻ đã xâm lăng và ăn cướp hải đảo của Việt Nam bất chấp luật pháp quốc tế và hiện nay vẫn còn đang tiếp tục đe doạ quyền lợi của Việt Nam qua các hành động dùng tàu chiến, tàu hải giám đe dọa, thị uy, đâm chìm tàu cá và buộc Việt Nam phải chấm dứt thăm dò dầu khí ngay trong vùng biển đặc quyền kinh tế của mình;

– Trung Cộng là tập đoàn mafia tìm cách khống chế Biển Đông. Trong suốt một thời gian dài, Trung Cộng bao vây đe dọa chẳng những ngư dân Việt Nam mà cả ngư dân Philippines. Gần đây tàu chiến Trung Cộng còn quanh quẩn trong vùng biển chủ quyền đang thăm dò dầu khí của Malaysia và dòm ngó Indonesia. Những hành động có hệ thống ấy chứng tỏ tham vọng rất lớn lao của tập đoàn cầm quyền Bắc Kinh, chẳng những bành trướng đất đai mà còn muốn chiếm trọn nguồn nguyên liệu dồi dào dưới Biển Đông;

– Từ lâu lập trường không thay đổi của Trung Cộng là tạo thế đối đầu với Mỹ, từ chiến tranh Triều Tiên đến chiến tranh Việt Nam và vấn đề Đài Loan. Ngày nay do tham vọng bành trước lãnh thổ, Trung Cộng không bao giờ chấp nhận sự hiện diện của Mỹ trên Biển Đông nói riêng và vùng Ấn Độ-Thái Bình Dương nói chung. Vì lẽ dễ hiểu, sức mạnh của Hải quân Mỹ ở đây sẽ cản trở mạnh mẽ tham vọng bá quyền của tập đoàn Bắc Kinh.

Một người mang danh tướng lãnh cao cấp của quân đội mà không thấy được sự thâm hiểm của Bắc Kinh, không phân biệt được bạn, thù lại đánh đồng Trung Cộng và Mỹ là “hai quốc gia gây ra sự bất ổn và căng thẳng ở Biển Đông!” Lập luận này chẳng những ấu trĩ mà còn cho thấy trong quân đội Việt Nam có không ít tướng tá có cùng suy nghĩ như ông Trung, coi nhiệm vụ bảo vệ biển đảo không phải của mình.

Trong khi nước Mỹ từ nhiều thập niên nay đã liên tục duy trì sự có mặt của Hạm Đội 7 để bảo vệ Biển Đông tức bảo vệ cho hàng trăm quốc gia, trong số đó có Việt Nam. Các quốc gia trên thế giới đã dễ dàng sử dụng hải lộ quốc tế này để lưu thông hàng hoá, trao đổi thương mại góp phần tạo ra sự ổn định và phồn thịnh trong khu vực Bắc Á lẫn Nam Á. Đó cũng chính là bảo vệ cho sự phát triển của sức mạnh Hoa Kỳ.

Thế nhưng từ năm 1958 là năm Trung Cộng công bố lãnh hải 12 hải lý bao gồm 2 quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, tiếp theo lại đưa ra bản đồ đường lưỡi bò chiếm gần trọn Biển Đông. Những hành động ấy thực sự đã làm tình hình Biển Đông xáo trộn, gây ra sự tranh chấp chủ quyền dai dẳng của các quốc gia biển với Bắc Kinh.

Hơn thế nữa, từ năm 2015, Trung Cộng đã bồi đắp, biến các bãi đá chìm ở Trường Sa thành căn cứ hoả lực, đồn trú binh sĩ và lực lượng không-hải quân. Câu hỏi đặt ra là Bắc Kinh muốn gì, nếu đó không phải là âm mưu thôn tính Biển Đông.

Do đó nói nhập nhằng như tướng Võ Tiến Trung, “Mỹ và Trung Quốc gây ra tình hình căng thẳng, bất ổn ở Biển Đông và có nguy cơ gây ra chiến tranh” là điều không người Việt Nam nào có thể chấp nhận được.

Đó là chưa kể với lập trường đứng hai hàng như tướng Trung, dư  luận không khỏi đánh giá ông chỉ là loại tướng giá áo túi cơm, hay hơn nữa là viên tướng Việt gian chăng?

Phạm Nhật Bình

XEM THÊM:

 

 

Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print

BÀI MỚI

Ông Lê Khả Phiêu, cựu Tổng Bí Thư đảng CSVN từ tháng 12/1997 - 4/2001. Ảnh: chụp từ báo Tuổi Trẻ

Tội của Lê Khả Phiêu

Lãnh đạo tốt của một quốc gia để lại di sản cho đất nước, nhưng lãnh đạo xấu thì để lại di hại muôn đời. Vậy ngoài tội làm lãnh đạo của một thể chế độc tài đi ngược lại quyền lợi của dân tộc, ông Phiêu còn có những “thành tích” bán nước nào đáng lưu ý? Hãy cùng xét lại cuộc đời chính trị của ông.

CSVN luôn miệng tuyên truyền quyền tự do ngôn luận được bảo đảm và tôn trọng ở Việt Nam. Ảnh: Internet

Nghĩ về “bảo đảm tự do ngôn luận chứ không cổ suý tự do ngôn luận”

Trong thể chế chính trị độc tài tại Việt Nam, khi CSVN nói rằng “bảo đảm tự do ngôn luận” chỉ mang ý nghĩa tuyên truyền bề nổi mà thôi. Sự kiện CSVN ký vào Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền 1948 cũng như viết trong Hiến Pháp 2013 rằng “Nhà nước Việt Nam tôn trọng tự do ngôn luận,” hoàn toàn là “a dua” theo trào lưu chung của nhân loại, qua đó tô vẽ bộ mặt của chế độ bớt cực đoan, khủng bố đối với những ai ít hiểu biết.

Đại dịch Covid-19: Ai chịu trách nhiệm về sự lây lan của 2019-nCoV khiến cả thế giới chịu tai họa? Ảnh: Internet

Covid 19: Bắc Kinh phải chịu trách nhiệm

Hành động bưng bít này là phạm tội. Muốn tránh bệnh di truyền lan tràn cho cả loài người, mỗi quốc gia khi biết có người mắc bệnh dịch mới phải lập tức thông báo ngay cho các nước khác biết. Đó là một bổn phận.

Năm 2003, Trung Cộng đã phạm tội chậm trễ không cho các nước láng giềng biết ngay khi bệnh SARS phát khởi. Năm nay, họ bảo vệ rất lâu quan điểm là vi khuẩn SARS‑CoV‑2 chỉ truyền từ thú vật sang loài người. Họ chỉ chịu công nhận rằng vi khuẩn đã truyền từ người sang người, ngày 20 tháng Giêng, 2020, hàng tháng sau khi bệnh phát khởi.

Tổ hợp năng lượng tái tạo điện mặt trời và điện gió ở Ninh Thuận. Ảnh: Báo Khoa Học và Phát Triển

Tại sao Việt Nam không nên phát triển điện hạt nhân bằng mọi giá?

Do tính chất phức tạp của các nhà máy điện hạt nhân, chính phủ Việt Nam có thể sẽ phải chịu gánh nặng kép, vừa là chủ sở hữu, vừa là người cung cấp tài chính cho các dự án đó. Tuy nhiên đối với các nhà máy điện khí, chúng có thể được đầu tư xây dựng và vận hành bởi các nhà đầu tư tư nhân hoặc nước ngoài, do đó giúp chính phủ không phải bận tâm về những vấn đề này.