Vụ Bãi Tư Chính và thế kẹt của Hà Nội

Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print
Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print

Sau hơn hai tuần lễ im lặng, cuối cùng phát ngôn nhân Bộ Ngoại Giao CSVN Lê Thị Thu Hằng đã phải lên tiếng hôm 19 tháng Bảy về những xung đột đang xảy ra ở Bãi Tư Chính.

Thứ nhất, có xung đột giữa 4 tàu Cảnh sát biển CSVN và 2 tàu Cảnh sát biển Trung Cộng (trong đó có một tàu khổng lồ 10.000 tấn) và một nhóm tàu khảo sát Hải Dương 8 của Trung Quốc trong vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa Việt Nam ở khu vực phía nam Biển Đông, từ ngày mồng 3 tháng Bảy, nhưng hai phía đã giữ im lặng.

Thứ hai, CSVN đã tiếp xúc nhiều lần với phía Trung Cộng ở các kênh khác nhau, trao công hàm phản đối, và yêu cầu rút toàn bộ tàu ra khỏi vùng biển Việt Nam. Nhưng bà Thu Hằng cho biết là cho đến nay Bắc Kinh vẫn không đáp ứng các yêu cầu của Hà Nội, các tàu của Trung Cộng tiếp tục thăm dò trong khu vực gần Bãi Tư Chính.

Trước đó hai hôm, ngày 17 tháng Bảy, phát ngôn viên Bộ Ngoại Giao Trung Quốc Cảnh Sảng nói rằng Bắc Kinh muốn Hà Nội phải: “thực sự tôn trọng quyền chủ quyền và quyền tài phán của Trung Quốc tại các vùng biển có liên quan, và không có những hành động làm phức tạp tình hình.”

Trong cùng ngày, khi Thượng Tướng Nguyễn Chí Vịnh, Thứ Trưởng Bộ Quốc Phòng trả lời với báo chí lề phải về tình hình Biển Đông, đã hoàn toàn không nhắc gì đến vụ xung đột ở Bãi Tư Chính mà chỉ nói chung chung rằng: “Chúng ta một mặt đấu tranh bảo vệ chủ quyền, mặt khác phải đấu tranh để bảo vệ môi trường hòa bình và lợi ích chung của Biển Đông với cộng đồng quốc tế.”

Sự đụng độ giữa tàu cảnh sát biển CSVN và Trung Quốc hiện nay đã làm cho dư luận nhớ đến một biến cố khác xảy ra cách đây hai năm, đúng vào thời điểm tháng Bảy. Đó là vào đầu tháng Bảy năm 2017, công ty Talisman – Việt Nam, một công ty con của Repsol (Tây Ban Nha) đã tuyên bố tìm được một mỏ khí đốt lớn trong khu vực Bãi Tư Chính, thuộc lô 136-03 có trị giá 1 tỷ Mỹ Kim. Tin này đã được CSVN xác nhận. Tuy nhiên ngay sau đó, Bộ Chính Trị CSVN đã phải cho ngưng khai thác khí đốt tại khu vực này vì bị Trung Cộng đe dọa sẽ tấn công vào các căn cứ của Việt Nam tại quần đảo Trường Sa. Repsol được lệnh phải rời khỏi khu vực, mặc dù đã chi khoảng 300 triệu USD cho việc thăm dò này.

Vì thế khi xung đột Bãi Tư Chính xảy ra, lãnh đạo CSVN đã cố tình giấu kín sự việc do vừa lo sợ làn sóng chống Trung Quốc sẽ bùng nổ trở lại, và có thể sẽ lớn hơn cuộc biểu tình chống Dự Luật Đặc Khu xảy ra vào ngày 10 tháng Sáu, 2018, vừa lo ngại những động thái uy hiếp bằng vũ lực từ phía Trung Quốc.

Một cuộc biểu tình vô cùng đông đảo, qui tụ mọi thành phần dân chúng nhằm chống Dự Luật Đặc Khu và An Ninh Mạng tại Sài Gòn hôm 10 tháng Sáu, 2018.
Một cuộc biểu tình vô cùng đông đảo, qui tụ mọi thành phần dân chúng nhằm chống Dự Luật Đặc Khu và An Ninh Mạng tại Sài Gòn hôm 10 tháng Sáu, 2018.

Thứ nhất, lãnh đạo CSVN đang hưởng rất nhiều lợi ích kinh tế do cuộc xung đột mậu dịch giữa Trung Quốc và Hoa Kỳ. Để hưởng những lợi ích này từ cả hai phía Hoa Kỳ (xuất khẩu) và Trung Quốc (đầu tư), CSVN buộc phải giữ thế đu dây và quan trọng hơn nữa là kiểm soát được tình hình, để không cho xảy ra bất cứ những biến động nào dù lớn hay nhỏ. Tâm lý lo sợ biến động đã ăn sâu trong đầu óc các lãnh đạo Hà Nội, biểu hiện rõ rệt trong phát biểu mới đây của Thượng Tướng Nguyễn Chí Vịnh: “Biển Đông là lợi ích chung của cả thế giới, và các vấn đề phải được giải quyết bằng biện pháp hòa bình trên cơ sở luật pháp quốc tế để đi đến sự ổn định, hợp tác và phát triển trong khu vực.”

Phát biểu của Tướng Vịnh và cả tứ trụ trong hàng ngũ lãnh đạo CSVN từ trước tới nay liên quan tới Trung Cộng, đều cho thấy họ không hề “có xương sống”. Do vòng kim cô “Đại Cục”, họ không những phát biểu chung chung để làm hài lòng cả hai phía mà còn biểu hiện một sự nhu nhược trước hành động xâm phạm một cách trắng trợn của Bắc Kinh đối với chủ quyền của Việt Nam trong khu vực Bãi Tư Chính.

Thứ hai, Bắc Kinh đang có nhu cầu tạo một “sự cố” tại Biển Đông nhằm giải quyết nhu cầu sinh tử hiện nay, dùng nó trấn áp nội bộ đảng, ngăn chặn những rối loạn có thể xảy ra vì những suy thoái kinh tế từ hậu quả của các chính sách áp thuế của Hoa Kỳ. Với thái độ nhu nhược cố hữu của Hà Nội, Việt Nam đã trở thành đích nhắm tốt nhất của Bắc Kinh để tạo ra “sự cố” trên Biển Đông, thay vì là Hoa Kỳ hay Phi Luật Tân, để vừa đánh lạc hướng người dân Trung Quốc từ những khó khăn kinh tế, vừa triệt hạ những thế lực đang muốn chống lại họ Tập cũng như trấn áp các cuộc vận động của phe dân chủ Trung Quốc hiện nay.

Nếu xung đột bùng nổ, Bộ Chính Trị CSVN nhìn thấy rõ là họ rơi vào thế kẹt giữa hai lằn đạn: sức ép chống Tàu của người Việt Nam và sức ép kinh tế đến từ các doanh nhân dưới sự chỉ đạo của Bắc Kinh. Hơn thế nữa, sức ép này lại xảy ra trong bối cảnh sức khỏe của ông Nguyễn Phú Trọng chưa phục hồi sau cơn đột quỵ hôm đến thăm Kiên Giang vào ngày 14 tháng Tư, khiến sự chia rẽ nội bộ giữa các khuynh hướng “thoát Trung”, “bám Trung”, “thân Mỹ” càng thêm trầm trọng.

Tóm lại, qua phản ứng của Hà Nội về vụ xung đột ở Bãi Tư Chính trong hai tuần lễ vừa qua, người ta càng thấy rõ thế chênh vênh của lãnh đạo CSVN trong cuộc chiến thương mại giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc hiện nay. Chính thế chênh vênh này sẽ làm cho nội bộ đảng trở nên phức tạp, và những xung đột ngầm trong việc chuẩn bị nhân sự của đại hội 13 sẽ diễn ra không khác gì những rối rắm ở đại hội 12. Hai thế lực Trần Quốc Vượng (cánh miền Bắc) và Nguyễn Xuân Phúc (cánh Đà Nẵng) sẽ là những nối dài của cuộc tranh chấp Nguyễn Phú Trọng và Nguyễn Tấn Dũng của 5 năm về trước.

Lý Thái Hùng

 

Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print

BÀI MỚI

Sách "Chuyện với Thanh" và tác giả Nguyễn Thành Nam

Xã hội sẽ “tử tế” kiểu gì khi “hoàn lưu” những cuộc đấu tố trở lại?

Gieo nỗi sợ, người ta sẽ gặt được sự giả dối. Gieo đấu tố, người ta sẽ gặt sự phản trắc. Gieo thói quen kết tội người khác để bảo vệ mình, người ta sẽ tạo ra một xã hội trong đó không ai thực sự bảo vệ ai. Đến một ngày nào đó, khi chính quyền cần sự dấn thân, lòng can đảm và tinh thần trách nhiệm của công dân, điều họ nhận lại có thể chỉ là những khuôn mặt im lặng, những lời nói theo mẫu và một xã hội đã rút hết sinh khí vào bên trong.

Cuốn sách "Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng" bị thu hồi và tiêu hủy. Ảnh: Nhà xuất bản Hội Nhà Vă

Vụ Nguyễn Thành Nam và màn kịch bệnh hoạn của cả một xã hội

Càng theo dõi diễn biến của vụ việc Nguyễn Thành Nam, người ta càng nhận ra đây không phải là một vụ án “thông thường.” Điều khiến nó trở nên đặc biệt không nằm ở điều luật được áp dụng, mà nằm ở chính con người bị áp dụng điều luật ấy.

Bởi lần đầu tiên trong nhiều thập niên, một người từng công khai giảng dạy môn Tư tưởng Hồ Chí Minh, viết sách với mong muốn làm cho người trẻ hiểu và yêu Hồ Chí Minh hơn, lại bị cáo buộc là người “tuyên truyền chống Nhà nước.”

Ông Tô Lâm phát biểu tại Hội nghị Sơ kết 1 năm vận hành cơ chế mới tổ chức vào ngày 1 tháng 7, 2026. Ảnh chụp từ trang mạng Thể Thao & Văn Hóa

Điểm nghẽn của chế độ Tô Lâm

Điểm nghẽn lớn nhất của Việt Nam hôm nay không còn chỉ là thể chế hay năng lực thực thi. Điểm nghẽn sâu xa hơn là mục tiêu phát triển.

Một quốc gia sẽ đi theo đúng mục tiêu mà nó lựa chọn. Nếu mục tiêu cao nhất là duy trì quyền lực, thì mọi chính sách cuối cùng sẽ phục vụ cho việc bảo vệ quyền lực. Nhưng nếu mục tiêu cao nhất là con người và dân tộc Việt Nam, thì toàn bộ hệ thống chính trị, giáo dục, kinh tế và văn hóa sẽ phải được tổ chức lại để khai mở tiềm năng của con người.

Thủ đô Seoul của Hàn Quốc. Quốc gia này là một trong số những ví dụ thành công về việc thoát khỏi “bẫy thu nhập trung bình.” Ảnh: Gije Cho - Pexels

Bẫy thu nhập trung bình

Cái bẫy này người ta gọi là Bẫy thu nhập trung bình, thuật ngữ do hai nhà kinh tế Indermit Gill và Homi Kharas đặt ra năm 2007, khi họ đang nghiên cứu chiến lược phát triển cho các nước Đông Á.

Ý tưởng cốt lõi thì đơn giản thôi: Một quốc gia nghèo có thể tăng trưởng khá nhanh nhờ mấy lợi thế có sẵn, tài nguyên, nhân công rẻ, hay viện trợ nước ngoài. Nhưng đến một ngưỡng nào đó, mọi thứ chững lại. Lương tăng lên rồi, thế là mất luôn lợi thế “rẻ.”