Vụ Bãi Tư Chính: Vì sao Mỹ ủng hộ Việt Nam nhưng vẫn cầm chừng?

Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print
Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print

Hoa Kỳ đã trở thành quốc gia đầu tiên, và có lẽ là duy nhất, lên tiếng gián tiếp ủng hộ Việt Nam liên quan vụ tàu thăm dò địa chất Hải Dương-8 và một số tàu cảnh sát biển của Trung Quốc xâm nhập vào vùng đặc quyền kinh tế Bãi Tư Chính của Việt Nam trong suốt nửa tháng qua như vào chốn không người.

Ngày 21 tháng Bảy, 2019, Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ ra tuyên bố lên án Trung Quốc bằng những lời lẽ đanh thép, cáo buộc nước này có “hành vi bắt nạt” và “làm suy yếu hòa bình và an ninh” khu vực giữa lúc tàu khảo sát địa chất của Trung Quốc tiếp tục hoạt động trong vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam ở phía nam Biển Đông.

Cần chú ý về tính thời điểm của tuyên bố trên: Hoa Kỳ đã chỉ lên tiếng sau khi Bộ Ngoại Giao Việt Nam chịu mở miệng: “Trong những ngày qua, nhóm tàu khảo sát Hải Dương 8 của Trung Quốc đã có hành vi vi phạm vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam tại khu vực phía nam Biển Đông” vào ngày 20 tháng Bảy.

Đó là lần đầu tiên chính thể Việt Nam dám nhắc đến cái tên Trung Quốc và chỉ trích trực tiếp hành vi của tàu Hải Dương-8, còn trong hai tuần trước đó đã tuyệt đối câm nín và bất lực đến cùng cực – tương tự trong rất nhiều lần xảy ra gây hấn của tàu Trung Quốc đối với tàu bè ngư dân Việt, đặc biệt trong vụ giàn khoan Hải Dương 981 vào năm 2014 và hai lần tàu Trung Quốc bao vây gây sức ép ở Bãi Tư Chính vào năm 2017 và 2018.

Tuy nhiên, ngoài việc ‘đánh võ miệng’ trong tuyên bố của mình, vào lần này phía Việt Nam vẫn chẳng có hành động kiên quyết nào, dù đã có Luật Cảnh Sát Biển và hoàn toàn có thể huy động tàu cảnh sát biển lẫn tàu hải quân ra khu vực gần đảo Trường Sa lớn để đẩy đuổi  các tàu Trung Quốc. Trong tư thế lép vế mà rất có thể đã ăn sâu vào não trạng khiếp sợ Bắc Kinh, Bộ Chính Trị đảng và Bộ Quốc Phòng Việt Nam vẫn chỉ kiên nhẫn chiến thuật ‘vờn tàu’, dùng loa phóng thanh công suất lớn để ‘tuyên truyền, vận động và thuyết phục’, nhưng lại khiến cho dư luận trong nước và quốc tế hiểu là chính thể này đang và sẽ rất bị động, hay về thực chất là chẳng biết làm gì, nếu phía Bắc Kinh không muốn rút ngay tàu Hải Dương-8 ra khỏi Bãi Tư Chính mà cứ để nguyên tàu thăm dò địa chất này ở đó như một cách khiêu khích và nắn gân phía Việt Nam, tương tự cái cách mà Hải Dương 981 đã ngự trị ở Biển Đông suốt hai tháng trời và chỉ chịu rút đi sau khi phía Việt Nam đã phải muối mặt nhịn nhục và thỏa mãn một số điều kiện về kinh tế và ngoại giao.

Trong khi đó, có một khác biệt đáng kể trong thái độ và cách hành xử của Hoa Kỳ giữa hai thời điểm năm 2019 và năm 2014.

Vào năm 2014, Hoa Kỳ là quốc gia duy nhất ủng hộ Việt Nam trong sự kiện Hải Dương 981, nhưng không chỉ bằng hình thức sự lên tiếng của Bộ Ngoại Giao nước này, mà còn bởi cả một nghị quyết về Biển Đông của Quốc Hội Mỹ. Một bản nghị quyết rất cứng rắn và bật đè xanh cho toàn bộ hoạt động can thiệp vào Biển Đông về sau này của hải quân và không quân Mỹ.

Tuy nhiên cho đến thời điểm này của năm 2019, Quốc Hội Mỹ vẫn chưa có động thái nào phản ứng với Trung Quốc, còn cấp độ phản ứng trong chính phủ Hoa Kỳ chỉ là một tuyên bố của của Bộ Ngoại Giao, hay chính xác hơn là tuyên bố của Phát ngôn nhân Morgan Ortagus của Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ.

Nếu vào năm 2014 và những năm sau đó, Mỹ không chỉ phản ứng bằng hành động ngoại giao mà còn cho máy bay chiến đấu và tàu chiến tuần tiễu, tàu khu trục vào vùng biển và không gian Biển Đông để răn đe hoạt động cường bá của Trung Quốc, thì cho đến nay vẫn chưa thấy có động thái quân sự nào từ Hạm Đội 7 của Mỹ.

Vì sao lại có sự khác biệt đáng kể như thế? Người Mỹ còn chờ gì nữa?

Hẳn là chờ Việt Nam.

Đã 5 năm trời qua kể từ vụ Hải Dương 981 năm 2014, nhưng sự thể tồi tệ là não trạng ngả ngớn đu lắc và õng ẹo đu dây chính trị vẫn bị nén chặt trong những cái đầu bí bách và bế tắc của giới chóp bu Việt Nam. Não trạng luôn duy trì hy vọng đầy ảo tưởng vào tình cảm ‘bốn tốt’ và ‘mười sáu chữ vàng’ với Bắc Kinh đã dẫn đến hậu quả là cho đến nay, đã chẳng có bước tiến đáng kể nào trong mối quan hệ hợp tác quốc phòng Việt – Mỹ, trong khi vấn đề sự hiện diện của hải quân và không quân Hoa Kỳ tại quân cảng Cam Ranh lẽ ra đã phải được ưu tiên số một. Và lẽ ra tại Cam Ranh giờ đây đã phải có hình ảnh thường trú của một hàng không mẫu hạm Mỹ.

Thái độ vặn vẹo gần đây của Donald Trump với Việt Nam cho thấy ông ta có vẻ không hài lòng với tiến trình ‘hợp tác quốc phòng Việt – Mỹ’ như rùa ấy.

Biểu hiện cầm chừng của Hoa Kỳ trong vụ Hải Dương-8 cho thấy Mỹ chỉ sẵn sàng ra tay một khi chính thể Việt Nam chịu từ bỏ phần lớn chủ trương đu dây chính trị và có thái độ phản ứng dứt khoát đối với sự gây hấn của Bắc Kinh. Còn nếu không như thế, nhiều khả năng Mỹ sẽ chỉ đứng nhìn con sói Trung Quốc hung hãn cắn xé miếng mồi Bãi Tư Chính – hệt cái cách mà chính thể độc tài ở Việt Nam khư khư ôm trọn quyền hành ‘đã có đảng và nhà nước lo’ để không những không chấp nhận tinh thần yêu nước và biểu thị của người dân Việt, mà còn xua bầy đàn công an nhe nanh lao vào cắn xé đoàn người biểu tình ôn hòa phản đối Trung Quốc trong cả hàng thập kỷ qua.

Thường Sơn

Nguồn: Việt Nam Thời Báo

 

Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print

BÀI MỚI

Sách "Chuyện với Thanh" và tác giả Nguyễn Thành Nam

Xã hội sẽ “tử tế” kiểu gì khi “hoàn lưu” những cuộc đấu tố trở lại?

Gieo nỗi sợ, người ta sẽ gặt được sự giả dối. Gieo đấu tố, người ta sẽ gặt sự phản trắc. Gieo thói quen kết tội người khác để bảo vệ mình, người ta sẽ tạo ra một xã hội trong đó không ai thực sự bảo vệ ai. Đến một ngày nào đó, khi chính quyền cần sự dấn thân, lòng can đảm và tinh thần trách nhiệm của công dân, điều họ nhận lại có thể chỉ là những khuôn mặt im lặng, những lời nói theo mẫu và một xã hội đã rút hết sinh khí vào bên trong.

Cuốn sách "Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng" bị thu hồi và tiêu hủy. Ảnh: Nhà xuất bản Hội Nhà Vă

Vụ Nguyễn Thành Nam và màn kịch bệnh hoạn của cả một xã hội

Càng theo dõi diễn biến của vụ việc Nguyễn Thành Nam, người ta càng nhận ra đây không phải là một vụ án “thông thường.” Điều khiến nó trở nên đặc biệt không nằm ở điều luật được áp dụng, mà nằm ở chính con người bị áp dụng điều luật ấy.

Bởi lần đầu tiên trong nhiều thập niên, một người từng công khai giảng dạy môn Tư tưởng Hồ Chí Minh, viết sách với mong muốn làm cho người trẻ hiểu và yêu Hồ Chí Minh hơn, lại bị cáo buộc là người “tuyên truyền chống Nhà nước.”

Ông Tô Lâm phát biểu tại Hội nghị Sơ kết 1 năm vận hành cơ chế mới tổ chức vào ngày 1 tháng 7, 2026. Ảnh chụp từ trang mạng Thể Thao & Văn Hóa

Điểm nghẽn của chế độ Tô Lâm

Điểm nghẽn lớn nhất của Việt Nam hôm nay không còn chỉ là thể chế hay năng lực thực thi. Điểm nghẽn sâu xa hơn là mục tiêu phát triển.

Một quốc gia sẽ đi theo đúng mục tiêu mà nó lựa chọn. Nếu mục tiêu cao nhất là duy trì quyền lực, thì mọi chính sách cuối cùng sẽ phục vụ cho việc bảo vệ quyền lực. Nhưng nếu mục tiêu cao nhất là con người và dân tộc Việt Nam, thì toàn bộ hệ thống chính trị, giáo dục, kinh tế và văn hóa sẽ phải được tổ chức lại để khai mở tiềm năng của con người.

Thủ đô Seoul của Hàn Quốc. Quốc gia này là một trong số những ví dụ thành công về việc thoát khỏi “bẫy thu nhập trung bình.” Ảnh: Gije Cho - Pexels

Bẫy thu nhập trung bình

Cái bẫy này người ta gọi là Bẫy thu nhập trung bình, thuật ngữ do hai nhà kinh tế Indermit Gill và Homi Kharas đặt ra năm 2007, khi họ đang nghiên cứu chiến lược phát triển cho các nước Đông Á.

Ý tưởng cốt lõi thì đơn giản thôi: Một quốc gia nghèo có thể tăng trưởng khá nhanh nhờ mấy lợi thế có sẵn, tài nguyên, nhân công rẻ, hay viện trợ nước ngoài. Nhưng đến một ngưỡng nào đó, mọi thứ chững lại. Lương tăng lên rồi, thế là mất luôn lợi thế “rẻ.”